Thứ Hai, 29 tháng 8, 2016
Blog - Đoàn Hưng Quốc: Nhìn lại nguyên nhân cuộc khủng hoảng kinh tế 2007...
Blog - Đoàn Hưng Quốc: Nhìn lại nguyên nhân cuộc khủng hoảng kinh tế 2007...: Ngân Hàng Trung Ương Mỹ vào tháng 12/2015 tăng lãi suất chỉ đạo 0.25%, đến tháng 1/2016 con số thất nghiệp giảm dưới 5%. Hai bước đánh dấu...
Blog - Đoàn Hưng Quốc: Tiền trên trời rớt xuống
Blog - Đoàn Hưng Quốc: Tiền trên trời rớt xuống: Ai không tin có tiền từ trên trời rớt xuống thì việc này gần xảy đến tại Nhật, Âu Châu và ngay cả Hoa Kỳ: lý do các quốc gia công nghiệp lâ...
LỜI CHÚA THỨ 3 TUẦN 22 THƯỜNG NIÊN
Trích sách: GIA ĐÌNH SỐNG LỜI CHÚA
Chủ biên: ĐỨC CHA PHÊRÔ NGUYỄN VĂN KHẢM
LỜI CHÚA: Lc 4, 31-37
Khi ấy, Chúa Giêsu xuống thành Capharnaum, xứ Galilêa, và ở đó Người giảng dạy họ trong các ngày Sabbat. Người ta bỡ ngỡ về giáo lý của Người, vì lời giảng dạy của Người có uy quyền. Bấy giờ trong hội đường, có một người bị quỷ ô uế ám, thét to lên rằng: "Hỡi Giêsu Nadarét, giữa chúng tôi và Ngài có chuyện chi đâu? Ngài đến tiêu diệt chúng tôi sao? Tôi biết Ngài là ai rồi, là Ðấng Thánh của Thiên Chúa". Nhưng Chúa Giêsu trách mắng nó rằng: "Hãy câm đi và ra khỏi người này". Và quỷ vật ngã người đó giữa hội đường và xuất khỏi nó, mà không làm hại gì nó. Mọi người kinh hãi và bảo nhau rằng: "Lời gì mà lạ lùng vậy? Vì Người dùng quyền năng mà ra lệnh cho các thần ô uế, và chúng phải xuất ra". Danh tiếng Người đồn ra khắp nơi trong xứ.
SUY NIỆM
Chúa Giêsu đã chứng minh Người là đấng có uy quyền trong lời giảng dạy và trong hành động. Người dạy cho dân chúng một thứ giáo lý siêu việt nhưng gần gũi với cuộc sống. Cả cuộc đời của người đã sống và làm chứng về giáo lý của người. Vì lẽ đó, sức mạnh của ma quỷ cũng phải chịu thua. Chúa buồn khi thấy người Kitô hữu hôm nay cảm thấy hờ hững với lời dạy của Chúa hoặc không chấp nhận Lời Chúa: “Tôi với ông có can chi đâu”.
CẦU NGUYỆN:
Lạy Chúa, xin củng cố niềm tin cho gia đình chúng con. Xin giúp chúng con biết yêu mến và sống theo Lời Chúa dạy để chúng con có sức mạnh chiến thắng ma quỷ và làm chứng cho Chúahttps://www.facebook.com/ChuongTrinhChuyenDeGiaoDuc/?hc_ref=NEWSFEED&fref=nf
Chủ biên: ĐỨC CHA PHÊRÔ NGUYỄN VĂN KHẢM
LỜI CHÚA: Lc 4, 31-37
Khi ấy, Chúa Giêsu xuống thành Capharnaum, xứ Galilêa, và ở đó Người giảng dạy họ trong các ngày Sabbat. Người ta bỡ ngỡ về giáo lý của Người, vì lời giảng dạy của Người có uy quyền. Bấy giờ trong hội đường, có một người bị quỷ ô uế ám, thét to lên rằng: "Hỡi Giêsu Nadarét, giữa chúng tôi và Ngài có chuyện chi đâu? Ngài đến tiêu diệt chúng tôi sao? Tôi biết Ngài là ai rồi, là Ðấng Thánh của Thiên Chúa". Nhưng Chúa Giêsu trách mắng nó rằng: "Hãy câm đi và ra khỏi người này". Và quỷ vật ngã người đó giữa hội đường và xuất khỏi nó, mà không làm hại gì nó. Mọi người kinh hãi và bảo nhau rằng: "Lời gì mà lạ lùng vậy? Vì Người dùng quyền năng mà ra lệnh cho các thần ô uế, và chúng phải xuất ra". Danh tiếng Người đồn ra khắp nơi trong xứ.
SUY NIỆM
Chúa Giêsu đã chứng minh Người là đấng có uy quyền trong lời giảng dạy và trong hành động. Người dạy cho dân chúng một thứ giáo lý siêu việt nhưng gần gũi với cuộc sống. Cả cuộc đời của người đã sống và làm chứng về giáo lý của người. Vì lẽ đó, sức mạnh của ma quỷ cũng phải chịu thua. Chúa buồn khi thấy người Kitô hữu hôm nay cảm thấy hờ hững với lời dạy của Chúa hoặc không chấp nhận Lời Chúa: “Tôi với ông có can chi đâu”.
CẦU NGUYỆN:
Lạy Chúa, xin củng cố niềm tin cho gia đình chúng con. Xin giúp chúng con biết yêu mến và sống theo Lời Chúa dạy để chúng con có sức mạnh chiến thắng ma quỷ và làm chứng cho Chúahttps://www.facebook.com/ChuongTrinhChuyenDeGiaoDuc/?hc_ref=NEWSFEED&fref=nf
Thứ Năm, 4 tháng 8, 2016
VÀI DÒNG TIỂU SỬ CỦA THÁNH GIOAN-MARIA VIANNEY
Lm. LG Đặng Quang Tiến
- 08/5/1786: Gioan-Maria Vianney sinh tại Dardilly, gần Lyon, nước Pháp. Ngài là con thứ tư trong sáu anh chị em.
- 1806: ngài bày tỏ ý muốn làm linh mục.
- 23/6/1815: chịu chức phó tế tại Lyon.
- 13/8/1815: chịu chức linh mục ở Grenoble do Đức cha Simon.
- 13/02/1818: Ngài đến xứ Ars như linh mục đặc trách.
- 1821: được bổ nhiệm làm chánh xứ
- Khoảng năm 1830: bắt đầu đoàn lũ người hành hương và sám hối đến xứ Ars. Họ đến ngày mỗi đông cho đến khi ngài qua đời. Cha sở xứ Ars hầu như chẳng bao giờ rời giáo xứ của ngài, vì phải lo cho họ.
- 1843: ba lần ngài muốn trốn đi.
- 1858: người ta đếm khoảng 120.000 người hành hương mỗi năm đến xứ Ars. Cha Sở xứ Ars giải tội 17 giờ mỗi ngày trong toà giải tội.
- 04/8/1859: Ngài qua đời vì kiệt sức lúc 2 giờ sáng.
- 08/01/1905: ĐTC Piô X phong chân phước cho ngài, và ngài được đặt làm “Đấng bảo trợ cho các linh mục tại Pháp”.
- 31/5/1925: ĐTC Piô XI phong thánh cho ngài.
- 1929: ĐTC Piô XI đặt Ngài làm “Đấng bảo trợ cho các Cha Xứ trên toàn thế giới”.
- 1806: ngài bày tỏ ý muốn làm linh mục.
- 23/6/1815: chịu chức phó tế tại Lyon.
- 13/8/1815: chịu chức linh mục ở Grenoble do Đức cha Simon.
- 13/02/1818: Ngài đến xứ Ars như linh mục đặc trách.
- 1821: được bổ nhiệm làm chánh xứ
- Khoảng năm 1830: bắt đầu đoàn lũ người hành hương và sám hối đến xứ Ars. Họ đến ngày mỗi đông cho đến khi ngài qua đời. Cha sở xứ Ars hầu như chẳng bao giờ rời giáo xứ của ngài, vì phải lo cho họ.
- 1843: ba lần ngài muốn trốn đi.
- 1858: người ta đếm khoảng 120.000 người hành hương mỗi năm đến xứ Ars. Cha Sở xứ Ars giải tội 17 giờ mỗi ngày trong toà giải tội.
- 04/8/1859: Ngài qua đời vì kiệt sức lúc 2 giờ sáng.
- 08/01/1905: ĐTC Piô X phong chân phước cho ngài, và ngài được đặt làm “Đấng bảo trợ cho các linh mục tại Pháp”.
- 31/5/1925: ĐTC Piô XI phong thánh cho ngài.
- 1929: ĐTC Piô XI đặt Ngài làm “Đấng bảo trợ cho các Cha Xứ trên toàn thế giới”.
I. LỜI CỦA CHA SỞ HỌ ARS
Với những lời nầy thánh Gioan-Maria Vianney đã đánh động các tâm hồn và đưa họ về với Thiên Chúa.
1. Lòng Nhân Từ và bí tích Tha Tội
“Nếu chúng ta hiểu rõ làm con cái Thiên Chúa là gì, có thể chúng ta sẽ không làm điều xấu… Là con cái Thiên Chúa, ôi, phẩm giá đẹp chừng nào!”
“Lòng nhân từ của Thiên Chúa như một dòng suối tràn bờ. Nó kéo theo những tâm hồn trên dòng nó đi qua”..
“Lòng nhân từ của Thiên Chúa như một dòng suối tràn bờ. Nó kéo theo những tâm hồn trên dòng nó đi qua”..
“Không phải các tội nhân đến cùng Thiên Chúa để xin Ngài tha tội, nhưng chính Thiên Chúa chạy đến với tội nhân và làm cho họ đến với Ngài”.
“Thành thử hãy cho Thiên Chúa niềm vui nầy… và chúng ta sẽ hạnh phúc”.
“Thiên Chúa tốt lành luôn sẵn sàng đón nhận chúng ta. Ngài kiên nhẫn đợi chờ chúng ta!”
“Có những người nói: “Tôi đã làm quá nhiều điều xấu, Thiên Chúa tốt lành không thể tha thứ cho tôi”. Nói như thế là phạm thượng lắm. Nói thế là giới hạn lòng nhân từ của Thiên Chúa. Lòng nhân từ nầy không có điểm chấm, mà vô tận”.
“Lỗi lầm của chúng ta như hạt cát bên cạnh ngọn núi lớn lao của lòng nhân từ của Thiên Chúa”.
“Khi linh mục ban ơn giải tội, chỉ phải nghĩ đến một điều: đó là máu của Thiên Chúa tốt lành chảy xuống trên tâm hồn chúng ta để rửa sạch tâm hồn, thanh tẩy tâm hồn và làm cho tâm hồn nên xinh đẹp như sau khi rửa tội.”
“Lúc ban ơn xá tội Thiên Chúa tốt lành ném tội lỗi chúng ta đằng sau lưng Ngài, nghĩa là Ngài quên chúng, Ngài làm chúng ta ra hư không: chúng sẽ không xuất hiện lại bao giờ”.
“Ngài sẽ không bao giờ nói đến các tội lỗi đã được tha. Chúng bị xoá sạch rồi, chúng không còn hiện hữu nữa”.
“Thành thử hãy cho Thiên Chúa niềm vui nầy… và chúng ta sẽ hạnh phúc”.
“Thiên Chúa tốt lành luôn sẵn sàng đón nhận chúng ta. Ngài kiên nhẫn đợi chờ chúng ta!”
“Có những người nói: “Tôi đã làm quá nhiều điều xấu, Thiên Chúa tốt lành không thể tha thứ cho tôi”. Nói như thế là phạm thượng lắm. Nói thế là giới hạn lòng nhân từ của Thiên Chúa. Lòng nhân từ nầy không có điểm chấm, mà vô tận”.
“Lỗi lầm của chúng ta như hạt cát bên cạnh ngọn núi lớn lao của lòng nhân từ của Thiên Chúa”.
“Khi linh mục ban ơn giải tội, chỉ phải nghĩ đến một điều: đó là máu của Thiên Chúa tốt lành chảy xuống trên tâm hồn chúng ta để rửa sạch tâm hồn, thanh tẩy tâm hồn và làm cho tâm hồn nên xinh đẹp như sau khi rửa tội.”
“Lúc ban ơn xá tội Thiên Chúa tốt lành ném tội lỗi chúng ta đằng sau lưng Ngài, nghĩa là Ngài quên chúng, Ngài làm chúng ta ra hư không: chúng sẽ không xuất hiện lại bao giờ”.
“Ngài sẽ không bao giờ nói đến các tội lỗi đã được tha. Chúng bị xoá sạch rồi, chúng không còn hiện hữu nữa”.
2. Thánh Thể và Rước Lễ
“Mọi công việc tốt lành cộng lại không bằng hiến tế của thánh lễ, vì chúng là công việc của con người, còn thánh lễ là công cuộc của Thiên Chúa.”
“Không có gì cao trọng hơn Thánh Lễ”.
“Chính Ngài yêu chúng ta rất nhiều! Tại sao chúng ta không yêu mến Ngài?
“Lương thực của tâm hồn chính là Mình và Máu của Con Một Thiên Chúa.”
“Hãy đến mà rước lễ. Hãy đến với Chúa Giêsu. Hãy đến sống với Ngài, để sống cho Ngài”.
“Thiên Chúa tốt lành muốn tự hiến cho chúng ta, trong bí tích tình yêu của Ngài. Ngài đã ban cho chúng ta một ước muốn bao la và lớn lao mà chỉ mình Ngài có thể thoả mãn”.
“Rước lễ làm cho tâm hồn như một hơi thổi vào lửa sắp lịm tắt, mà nơi đó vẫn còn nhiều than hồng”.
“Không có gì cao trọng hơn Thánh Lễ”.
“Chính Ngài yêu chúng ta rất nhiều! Tại sao chúng ta không yêu mến Ngài?
“Lương thực của tâm hồn chính là Mình và Máu của Con Một Thiên Chúa.”
“Hãy đến mà rước lễ. Hãy đến với Chúa Giêsu. Hãy đến sống với Ngài, để sống cho Ngài”.
“Thiên Chúa tốt lành muốn tự hiến cho chúng ta, trong bí tích tình yêu của Ngài. Ngài đã ban cho chúng ta một ước muốn bao la và lớn lao mà chỉ mình Ngài có thể thoả mãn”.
“Rước lễ làm cho tâm hồn như một hơi thổi vào lửa sắp lịm tắt, mà nơi đó vẫn còn nhiều than hồng”.
3. Cầu Nguyện
“Cầu nguyện không gì khác là kết hiệp với Thiên Chúa”.
“Cầu nguyện là một tình bạn … Là cuộc trò chuyện của một người con với cha nó”.
“Càng cầu nguyện, càng muốn cầu nguyện”.
“Bạn có một con tim nhỏ bé, nhưng cầu nguyện làm cho con tim lớn hơn và làm cho nó có thể yêu mến Thiên Chúa”.
“Không phải là những lời cầu nguyện dài và hay mà Thiên Chúa nhìn đến, nhưng là những lời cầu nguyện làm nên tự đáy lòng, với tất cả lòng tôn kính và ước ao thật sự làm đẹp lòng Thiên Chúa”.
“Việc cầu nguyện riêng giống như rơm rải rác đây đó trong cánh đồng. Nếu người ta mang chúng vào lửa, ngọn lửa cháy lên đôi chút, nhưng nếu người ta thu góp rơm rạ nầy lại, ngọn lửa sẽ bùng cao lên trời. Lời cầu nguyện chung giống như thế”.
“Con người có một chức năng rất đẹp, đó là cầu nguyện và yêu mến… Đó là hạnh phúc của con người trên trần gian”.
“Nào linh hồn tôi ơi, bạn đến nói chuyện với Thiên Chúa, làm việc với Ngài, đi đứng với Ngài, chiến đấu và đau khổ với Ngài. Bạn sẽ làm việc, nhưng Ngài sẽ chúc lành cho bạn. Bạn sẽ đi đứng, nhưng Ngài sẽ chúc lành cho bước chân của bạn. Bạn sẽ đau khổ, nhưng Ngài sẽ chúc lành cho nước mắt của bạn.
“Cầu nguyện là một tình bạn … Là cuộc trò chuyện của một người con với cha nó”.
“Càng cầu nguyện, càng muốn cầu nguyện”.
“Bạn có một con tim nhỏ bé, nhưng cầu nguyện làm cho con tim lớn hơn và làm cho nó có thể yêu mến Thiên Chúa”.
“Không phải là những lời cầu nguyện dài và hay mà Thiên Chúa nhìn đến, nhưng là những lời cầu nguyện làm nên tự đáy lòng, với tất cả lòng tôn kính và ước ao thật sự làm đẹp lòng Thiên Chúa”.
“Việc cầu nguyện riêng giống như rơm rải rác đây đó trong cánh đồng. Nếu người ta mang chúng vào lửa, ngọn lửa cháy lên đôi chút, nhưng nếu người ta thu góp rơm rạ nầy lại, ngọn lửa sẽ bùng cao lên trời. Lời cầu nguyện chung giống như thế”.
“Con người có một chức năng rất đẹp, đó là cầu nguyện và yêu mến… Đó là hạnh phúc của con người trên trần gian”.
“Nào linh hồn tôi ơi, bạn đến nói chuyện với Thiên Chúa, làm việc với Ngài, đi đứng với Ngài, chiến đấu và đau khổ với Ngài. Bạn sẽ làm việc, nhưng Ngài sẽ chúc lành cho bạn. Bạn sẽ đi đứng, nhưng Ngài sẽ chúc lành cho bước chân của bạn. Bạn sẽ đau khổ, nhưng Ngài sẽ chúc lành cho nước mắt của bạn.
4. Linh mục
“Linh mục là người tiếp tục công cuộc Cứu Chuộc trên trần gian”.
“Khi bạn thấy một linh mục, bạn hãy nghĩ đến Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta”.
“Linh mục không phải là linh mục cho mình, mà cho các bạn”.
“Đến xưng tội với Đức Trinh Nữ hay với một thiên thần. Các ngài sẽ giải tội cho bạn? Các ngài sẽ trao ban cho bạn Mình Máu Thánh Chúa chúng ta? Không đâu, Đức Trinh Nữ không thể làm Con của Mẹ xuống ngự trong Bánh Thánh. Dù bạn có hai trăm thiên thần ở đó đi nữa các ngài cũng không thể tha tội cho bạn. Một linh mục, dù đơn sơ đến mấy đi nữa, ngài có thể làm chuyện ấy. Ngài có thể nói với bạn: “Hãy đi bình an, cha tha tội cho con”.
“Ôi, linh mục là điều gì thật cao trọng!”.
“Một mục tử tốt lành, một mục tử theo lòng Thiên Chúa mong ước, là một kho tàng lớn mà Thiên Chúa tốt lành có thể ban cho một giáo xứ, và là một trong những ân huệ quý giá nhất của lòng nhân hậu thiên linh”.
“Linh mục, đó là tình yêu của Thánh Tâm Chúa Giêsu”.
“Hãy để một giáo xứ hai mươi năm không có linh mục: bây giờ người ta sẽ thờ thú vật”.
“Khi bạn thấy một linh mục, bạn hãy nghĩ đến Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta”.
“Linh mục không phải là linh mục cho mình, mà cho các bạn”.
“Đến xưng tội với Đức Trinh Nữ hay với một thiên thần. Các ngài sẽ giải tội cho bạn? Các ngài sẽ trao ban cho bạn Mình Máu Thánh Chúa chúng ta? Không đâu, Đức Trinh Nữ không thể làm Con của Mẹ xuống ngự trong Bánh Thánh. Dù bạn có hai trăm thiên thần ở đó đi nữa các ngài cũng không thể tha tội cho bạn. Một linh mục, dù đơn sơ đến mấy đi nữa, ngài có thể làm chuyện ấy. Ngài có thể nói với bạn: “Hãy đi bình an, cha tha tội cho con”.
“Ôi, linh mục là điều gì thật cao trọng!”.
“Một mục tử tốt lành, một mục tử theo lòng Thiên Chúa mong ước, là một kho tàng lớn mà Thiên Chúa tốt lành có thể ban cho một giáo xứ, và là một trong những ân huệ quý giá nhất của lòng nhân hậu thiên linh”.
“Linh mục, đó là tình yêu của Thánh Tâm Chúa Giêsu”.
“Hãy để một giáo xứ hai mươi năm không có linh mục: bây giờ người ta sẽ thờ thú vật”.
5. Đức Trinh Nữ Maria
“Đức Thánh Nữ Đồng Trinh là thụ tạo xinh đẹp đã không bao giờ làm phiền lòng Thiên Chúa tốt lành”.
“Chúa Cha thích nhìn tâm hồn của Rất Thánh Nữ Đồng Trinh Maria như tuyệt tác bởi tay Ngài”.
“Chúa Giêsu Kitô, sau khi đã ban cho chúng ta tất cả những gì Ngài có thể ban cho chúng ta, còn muốn làm cho chúng ta thừa hưởng điều Ngài có quý giá nhất, đó là Mẹ Thánh của Ngài”.
“Thánh Nữ Đồng Trinh Maria đã sinh chúng ta ra hai lần, trong việc Nhập Thể và dưới chân Thánh Giá: thành thử Ngài là Mẹ của chúng ta hai lần”.
“Không ai vào nhà mà không nói với người giữ cửa! Và nầy! Thánh Nữ Đồng Trinh là người giữ cửa Nước Trời”.
“Ave Maria là lời kinh không bao giờ làm nhàm chán cả”.
“Tất cả những gì Chúa Con xin cùng Chúa Cha để được nhận lời. Tất cả những gì Mẹ xin cùng Chúa Con cũng được nhận lời như vậy”.
“Phương thế chắc chắn nhất để biết ý muốn của Thiên Chúa là cầu nguyện với Mẹ tốt lành của chúng ta”.
“Chúa Cha thích nhìn tâm hồn của Rất Thánh Nữ Đồng Trinh Maria như tuyệt tác bởi tay Ngài”.
“Chúa Giêsu Kitô, sau khi đã ban cho chúng ta tất cả những gì Ngài có thể ban cho chúng ta, còn muốn làm cho chúng ta thừa hưởng điều Ngài có quý giá nhất, đó là Mẹ Thánh của Ngài”.
“Thánh Nữ Đồng Trinh Maria đã sinh chúng ta ra hai lần, trong việc Nhập Thể và dưới chân Thánh Giá: thành thử Ngài là Mẹ của chúng ta hai lần”.
“Không ai vào nhà mà không nói với người giữ cửa! Và nầy! Thánh Nữ Đồng Trinh là người giữ cửa Nước Trời”.
“Ave Maria là lời kinh không bao giờ làm nhàm chán cả”.
“Tất cả những gì Chúa Con xin cùng Chúa Cha để được nhận lời. Tất cả những gì Mẹ xin cùng Chúa Con cũng được nhận lời như vậy”.
“Phương thế chắc chắn nhất để biết ý muốn của Thiên Chúa là cầu nguyện với Mẹ tốt lành của chúng ta”.
II. NHỮNG CÂU CHUYỆN CỦA CHA SỞ HỌ ARS
(Trích dịch từ Teresio Bosco, Messe di Maggio, consacrato alla Madona Regina dei Santi, Elledici, 2004, Torino, 1770-189.)
1. Không Đủ Điểm Chịu Chức Linh Mục?
Năm 1815. Chỉ còn ba tháng nữa là chịu chức linh mục. Thầy Vianney phải qua một kỳ thi rất quan trọng. La tinh! Một ngôn ngữ “tra tấn” ngài. Ngài cố gắng hiểu nhưng chẳng nhớ gì cả. Chỉ muốn khóc mà thôi.
Một ngày sau cha giám đốc chúng viện gọi ngài lên và hỏi:
“Thầy Vianney, tôi nghĩ là thầy hiểu hoàn cảnh của thầy rồi. Không thể chịu chức linh mục mà không phải qua kỳ thi. Chỉ có cách cầu cứu giám mục mà thôi!”.
Tại toà giám mục, cha giám đốc nói cách rõ ràng:
“Thưa Đức cha, nếu Đức cha muốn có những người giỏi tiếng latinh và hy lạp tại xứ nầy, thì phải cho thầy Vianney về mà thôi. Nhưng nếu Đức cha muốn có các linh mục nói về Thiên Chúa cách đơn sơ, các linh mục biết thế nào là sám hối và cầu nguyện, thì chúng ta sẽ giữ thầy Vianney lại”.
Đức Giám mục lắng nghe. Rồi ngài hỏi: “Thầy Vianney có lòng yêu mến Chúa không? Có tôn sùng Đức Mẹ không?” – “Thưa Đức Cha, về điều nầy thì không có gì phải nghi ngờ. Vianney là một mẫu gương yêu mến Thiên Chúa”.
Đức Giám mục suy nghĩ lời cha giám đốc, rồi nói: “Nầy cha, cuộc Cách Mạng (Pháp) và chiến tranh đã mang đến sự tàn phá cho nhiều vùng và nhiều tâm hồn. Tôi tin là để tái thiết lại Hội Thánh các linh mục tài giỏi không đủ, mà cả các thánh. Nếu Vianney là một mẫu gương yêu mến Chúa, thì tôi chấp nhận thầy giữa hàng linh mục, và ơn Chúa sẽ làm điều còn lại”.
Ngày 13 tháng 8 năm 1815. Tại nhà nguyện Đấng Rất Thánh, ở Grenoble, Đức Giám mục Limon truyền chức linh mục cho thầy Gioan-Maria Vianney.
Một ngày sau cha giám đốc chúng viện gọi ngài lên và hỏi:
“Thầy Vianney, tôi nghĩ là thầy hiểu hoàn cảnh của thầy rồi. Không thể chịu chức linh mục mà không phải qua kỳ thi. Chỉ có cách cầu cứu giám mục mà thôi!”.
Tại toà giám mục, cha giám đốc nói cách rõ ràng:
“Thưa Đức cha, nếu Đức cha muốn có những người giỏi tiếng latinh và hy lạp tại xứ nầy, thì phải cho thầy Vianney về mà thôi. Nhưng nếu Đức cha muốn có các linh mục nói về Thiên Chúa cách đơn sơ, các linh mục biết thế nào là sám hối và cầu nguyện, thì chúng ta sẽ giữ thầy Vianney lại”.
Đức Giám mục lắng nghe. Rồi ngài hỏi: “Thầy Vianney có lòng yêu mến Chúa không? Có tôn sùng Đức Mẹ không?” – “Thưa Đức Cha, về điều nầy thì không có gì phải nghi ngờ. Vianney là một mẫu gương yêu mến Thiên Chúa”.
Đức Giám mục suy nghĩ lời cha giám đốc, rồi nói: “Nầy cha, cuộc Cách Mạng (Pháp) và chiến tranh đã mang đến sự tàn phá cho nhiều vùng và nhiều tâm hồn. Tôi tin là để tái thiết lại Hội Thánh các linh mục tài giỏi không đủ, mà cả các thánh. Nếu Vianney là một mẫu gương yêu mến Chúa, thì tôi chấp nhận thầy giữa hàng linh mục, và ơn Chúa sẽ làm điều còn lại”.
Ngày 13 tháng 8 năm 1815. Tại nhà nguyện Đấng Rất Thánh, ở Grenoble, Đức Giám mục Limon truyền chức linh mục cho thầy Gioan-Maria Vianney.
2. “Thiên Chúa Tốt Lành, con là một linh mục dốt nát đáng thương”
Tại làng Écully trời đầy sương. Một cỗ xe ngựa tiến tới. Mang theo một chiếc giường và ít đồ đạc khác. Đi trước cỗ xe là một linh mục mảnh khảnh và trắng dẻ, ngập ngừng dừng lại nhiều nơi. Thấy trên một bãi cỏ vài đứa trẻ đang chăn một đàn bò. Ngài gọi một đứa trong đám:
- Em làm ơn cho biết đường về xứ Ars ở đâu?
- Cha cứ đi thẳng, cho đến khi thấy một đường lớn hơn, rẽ bên trái. Chỉ vài phút sau là vào làng.
- Cám ơn em. Em tên gì?
- Antoine Givre.
- Cám ơn Antoine. Con chỉ cho cha đường về xứ Ars, và cha sẽ chỉ cho con đường lên Thiên Đàng.
Antoine Givre nhìn cha Vianney cách kinh ngạc. Đã lâu lắm rồi không thấy một linh mục ở vùng nầy. Cha Vianney quỳ xuống, hôn mảnh đất của giáo xứ và cầu nguyện:
- “Lạy Thiên Chúa tốt lành, con là một linh mục dốt nát đáng thương, Chúa biết điều nầy. Dân chúng ở đây không chờ đón con, mà Chúa. Họ cần Chúa. Xin hướng dẫn lời con nói, việc con làm, để các linh hồn nầy được cứu độ.”
- Em làm ơn cho biết đường về xứ Ars ở đâu?
- Cha cứ đi thẳng, cho đến khi thấy một đường lớn hơn, rẽ bên trái. Chỉ vài phút sau là vào làng.
- Cám ơn em. Em tên gì?
- Antoine Givre.
- Cám ơn Antoine. Con chỉ cho cha đường về xứ Ars, và cha sẽ chỉ cho con đường lên Thiên Đàng.
Antoine Givre nhìn cha Vianney cách kinh ngạc. Đã lâu lắm rồi không thấy một linh mục ở vùng nầy. Cha Vianney quỳ xuống, hôn mảnh đất của giáo xứ và cầu nguyện:
- “Lạy Thiên Chúa tốt lành, con là một linh mục dốt nát đáng thương, Chúa biết điều nầy. Dân chúng ở đây không chờ đón con, mà Chúa. Họ cần Chúa. Xin hướng dẫn lời con nói, việc con làm, để các linh hồn nầy được cứu độ.”
3. Bữa trưa bữa tối: một nồi khoai tây
Trong Phúc Âm, cha Vianney suy ngắm mọi ngày điều mà người ta hỏi Chúa Giêsu làm thế nào để xua trừ ma quỉ ô uế. Chúa Giêsu trả lời: “Bằng cầu nguyện và chay tịnh”. Cha sở họ Ars nắm giữ từng chữ từng lời.
Cầu nguyện kiên trì là một thói quen của ngài. Ngài cũng bắt đầu ăn chay một cách đáng sợ. Ngài nấu một số khoai tây trong một cái nồi. Đây là lương thực duy nhất cho suốt tuần. Ngài treo nồi khoai trên bếp, và khi nào cơn đói hành hạ ngài, ngài lấy một hoặc hai củ khoai. Sang củ thứ ba, thì ngài tự nói là tham ăn đấy! Và ngài ăn như vậy, lạnh lẽo và không có chút gia vị.
Sau một ngày làm việc và với lương thực như thế, vào buổi tối, ngài nằm trên sàn nhà, và lấy một thanh gỗ làm gối đầu. Ngài cầu nguyện: “Lạy Thiên Chúa của con, xin hãy hoán cải giáo xứ của con.”
Cầu nguyện kiên trì là một thói quen của ngài. Ngài cũng bắt đầu ăn chay một cách đáng sợ. Ngài nấu một số khoai tây trong một cái nồi. Đây là lương thực duy nhất cho suốt tuần. Ngài treo nồi khoai trên bếp, và khi nào cơn đói hành hạ ngài, ngài lấy một hoặc hai củ khoai. Sang củ thứ ba, thì ngài tự nói là tham ăn đấy! Và ngài ăn như vậy, lạnh lẽo và không có chút gia vị.
Sau một ngày làm việc và với lương thực như thế, vào buổi tối, ngài nằm trên sàn nhà, và lấy một thanh gỗ làm gối đầu. Ngài cầu nguyện: “Lạy Thiên Chúa của con, xin hãy hoán cải giáo xứ của con.”
4. Gương Giảng Dạy
Mỗi ngày thứ Bảy, ngồi trước mặt Thánh giá, ngài suy gẫm và viết bài giảng cho ngày hôm sau. Ngài viết, rồi xoá, viết lại bằng cách hỏi Chúa Giêsu Chịu Đóng Đinh chi tiết từng lời để có thể đánh động tâm hồn dân chúng. Rồi, ngài lập lại điều đã viết nhiều lần, và tìm cách học thuộc lòng.
Vào ngày Chúa nhật, dân chúng thấy mặt ngài sáng láng, giọng ngài nóng lên như lửa thiêu, và đánh động các tâm hồn.
Bảy năm như thế. Ngài tốt lành với mọi người. Ngài sám hối và cầu nguyện. Thù ghét bắt đầu biến tan. Người say rượu chừa bỏ. Các sàn nhảy lần lượt đóng cửa.
Vào ngày Chúa nhật, dân chúng thấy mặt ngài sáng láng, giọng ngài nóng lên như lửa thiêu, và đánh động các tâm hồn.
Bảy năm như thế. Ngài tốt lành với mọi người. Ngài sám hối và cầu nguyện. Thù ghét bắt đầu biến tan. Người say rượu chừa bỏ. Các sàn nhảy lần lượt đóng cửa.
5. Tử Đạo Vì Người Tội Lỗi
Tiếng thơm thánh thiện của cha sở họ Ars dần dần loan ra các vùng phụ cận và rồi cả nước Pháp. Từng đoàn lũ dân chúng kéo về xứ Ars và chờ đến phiên xưng tội với ngài.
Trong những năm cuối đời ngài, ngài để ra 17 giờ mỗi ngày để giải tội. Mỗi năm người ta đếm chừng 120.000 khách hành hương đến xứ Ars, mà đa số đều muốn đến quỳ gối nơi toà giải tội của ngài, “Đời ngài bị tiêu tán bởi tội lỗi cả nước Pháp” (một tác giả viết về ngài).
Năm 1859 cha Vianney sang một bước ngoặt. Ngày tháng của ngài tiêu hủy cho Thiên Chúa và anh chị em của ngài đã đến lúc hoàng hôn. Ngày 29 tháng 7 ngài về nhà xứ giữa đêm khuya sau một ngày dài ở toà giải tội như thường lệ. Ngài kiệt sức. Lấy tay chống vào tường, lần đến cầu thang. Bước lên bậc đầu tiên ngài thì thầm: “Lạy Thiên Chúa của con!”, và ngã sụp xuống. Vài người ở gần đó la lên:
- Cha sở ngã bệnh. Hãy kêu bác sĩ!
Cha Vianney mở mắt và nói thì thào:
- Không, hãy kêu linh mục.
Ngài xưng tội với tất cả lòng khiêm tốn với một linh mục trẻ. Sau khi lãnh nhận ơn giải tội xong, ngài tìm cách mỉm cười và nói với linh mục trẻ nầy:
- Chết thật là đẹp khi đã sống xong thánh giá của mình.
Trong những năm cuối đời ngài, ngài để ra 17 giờ mỗi ngày để giải tội. Mỗi năm người ta đếm chừng 120.000 khách hành hương đến xứ Ars, mà đa số đều muốn đến quỳ gối nơi toà giải tội của ngài, “Đời ngài bị tiêu tán bởi tội lỗi cả nước Pháp” (một tác giả viết về ngài).
Năm 1859 cha Vianney sang một bước ngoặt. Ngày tháng của ngài tiêu hủy cho Thiên Chúa và anh chị em của ngài đã đến lúc hoàng hôn. Ngày 29 tháng 7 ngài về nhà xứ giữa đêm khuya sau một ngày dài ở toà giải tội như thường lệ. Ngài kiệt sức. Lấy tay chống vào tường, lần đến cầu thang. Bước lên bậc đầu tiên ngài thì thầm: “Lạy Thiên Chúa của con!”, và ngã sụp xuống. Vài người ở gần đó la lên:
- Cha sở ngã bệnh. Hãy kêu bác sĩ!
Cha Vianney mở mắt và nói thì thào:
- Không, hãy kêu linh mục.
Ngài xưng tội với tất cả lòng khiêm tốn với một linh mục trẻ. Sau khi lãnh nhận ơn giải tội xong, ngài tìm cách mỉm cười và nói với linh mục trẻ nầy:
- Chết thật là đẹp khi đã sống xong thánh giá của mình.
III. HÀNH HƯƠNG ĐẾN XỨ ARS
Năm nay kỷ niệm 150 năm ngày thánh Gioan-Maria Vianney qua đời (1859-2009). Sẽ có một buổi tĩnh tâm cho linh mục toàn thế giới tại Ars do Đức Hồng Y Christoph Schönborn (Tổng Giám mục Vienna, nước Áo) giảng. Chủ đề: “La joie d’être prêtre consacré pour le salut du monde”, từ ngày 27/9 đến 03/10/2009.
Nhà thờ cũ (màu gạch đỏ) nơi ngài làm cha sở 1818-1959 (41 năm) vẫn còn giữ nguyên vẹn. Bên cạnh nhà thờ cũ nầy là ngôi thánh đường mới được xây 3 năm sau khi ngài qua đời. Hai nhà thờ nầy dễ phân biệt bởi kiểu kiến trúc khác nhau.
Nhà thờ cũ được dâng hiến cho Đức Mẹ không mang tội.
Vẫn còn đó toà giảng nơi thánh Vianey thường giảng dạy.
Rồi toà xưng tội nổi tiếng vẫn nằm đó trong phòng thánh nhà thờ cũ, nơi thánh Vianey giải tội 17 giờ/1 ngày. Ngài được gọi là “người tù” của toà giải tội.
Bảng thời khoá biểu một ngày sống của thánh Vianney: Từ 2 giờ sáng ngài đã giải tội rồi…
Nhà cha sở nơi thánh Gioan-Maria Vianey đã sống suốt 41 năm vẫn còn giữ nguyên vẹn từ khi thánh Gioan-Maria Vianey qua đời: phòng ngủ của ngài và những đồ đạc cá nhân đơn sơ của ngài.
Nhà bếp rất nghèo nàn: chén bát, soong chảo; đặc biệt có một toà giải tội bên góc tường nhà bếp. Thánh Vianney không có toà giải tội, nên đã lấy tủ đựng áo quần của ngài, khoét lỗ hai bên để làm toà giải tội. Dù đã giải tội 17 giờ/1 ngày vẫn chưa đủ. Người ta vẫn kéo đến xưng tội cả khi ngài đang dùng cơm.
Nhà thờ cũ (màu gạch đỏ) nơi ngài làm cha sở 1818-1959 (41 năm) vẫn còn giữ nguyên vẹn. Bên cạnh nhà thờ cũ nầy là ngôi thánh đường mới được xây 3 năm sau khi ngài qua đời. Hai nhà thờ nầy dễ phân biệt bởi kiểu kiến trúc khác nhau.
Nhà thờ cũ được dâng hiến cho Đức Mẹ không mang tội.
Vẫn còn đó toà giảng nơi thánh Vianey thường giảng dạy.
Rồi toà xưng tội nổi tiếng vẫn nằm đó trong phòng thánh nhà thờ cũ, nơi thánh Vianey giải tội 17 giờ/1 ngày. Ngài được gọi là “người tù” của toà giải tội.
Bảng thời khoá biểu một ngày sống của thánh Vianney: Từ 2 giờ sáng ngài đã giải tội rồi…
Nhà cha sở nơi thánh Gioan-Maria Vianey đã sống suốt 41 năm vẫn còn giữ nguyên vẹn từ khi thánh Gioan-Maria Vianey qua đời: phòng ngủ của ngài và những đồ đạc cá nhân đơn sơ của ngài.
Nhà bếp rất nghèo nàn: chén bát, soong chảo; đặc biệt có một toà giải tội bên góc tường nhà bếp. Thánh Vianney không có toà giải tội, nên đã lấy tủ đựng áo quần của ngài, khoét lỗ hai bên để làm toà giải tội. Dù đã giải tội 17 giờ/1 ngày vẫn chưa đủ. Người ta vẫn kéo đến xưng tội cả khi ngài đang dùng cơm.
IV. SỨ ĐIỆP ĐỂ LẠI CHO CÁC LINH MỤC MỌI THỜI
- Con người cầu nguyện: Lâu giờ bên nhà tạm, thâm tình thật sự với Thiên Chúa, phó thác hoàn toàn cho thánh ý Thiên Chúa. Yêu mến Thiên Chúa vô cùng: “Je vous aime, ô mon Dieu…”.
- Trung tâm đời ngài là thánh thể. “Il est là”, thánh Vianey thường kêu lên như thế khi nhìn vào nhà tạm. Ngài là con người của thánh thể, dâng lễ và thờ lạy; “Không có gì cao trọng hơn Thánh Thể” (Il n’y a plus rien de plus grand que l’Eucharistie”). Cho con người Thiên Chúa và cho Thiên Chúa con người.
- Tóm tắt 41 năm cha thánh vianey ở xứ Ars: Ám ảnh bởi muốn con người được cứu độ, nhất là những người đến với ngài hay ngài chịu trách nhiệm. Ngài ước ao mỗi người nếm được niềm vui nhận biết Thiên Chúa, yêu mến Ngài và biết Ngài yêu mến chúng ta…
- Tử đạo nơi toà giải tội. Từ năm 1830 hàng ngàn người đến xứ Ars để xưng tội. Năm 1859 người ta đếm hơn 120.000 người.
- Ngài chú tâm đến mọi chiều kích của con người. Ngài không ngừng giúp đỡ, làm dịu đau khổ, giúp cho người khác được hạnh phúc: viện mồ côi, trường học, lo cho người nghèo…
- Một tiếng mời gọi nên thánh cho toàn thế giới: “Je te montrerai le chemin du Ciel” (Cha sẽ chỉ cho con đường về Trời). Đó là lời ngài đáp lại trẻ chăn chiên đã chỉ cho ngài đường về xứ Ars. Ngài mời gọi mỗi người hãy để cho Thiên Chúa thánh hoá.
- Trung tâm đời ngài là thánh thể. “Il est là”, thánh Vianey thường kêu lên như thế khi nhìn vào nhà tạm. Ngài là con người của thánh thể, dâng lễ và thờ lạy; “Không có gì cao trọng hơn Thánh Thể” (Il n’y a plus rien de plus grand que l’Eucharistie”). Cho con người Thiên Chúa và cho Thiên Chúa con người.
- Tóm tắt 41 năm cha thánh vianey ở xứ Ars: Ám ảnh bởi muốn con người được cứu độ, nhất là những người đến với ngài hay ngài chịu trách nhiệm. Ngài ước ao mỗi người nếm được niềm vui nhận biết Thiên Chúa, yêu mến Ngài và biết Ngài yêu mến chúng ta…
- Tử đạo nơi toà giải tội. Từ năm 1830 hàng ngàn người đến xứ Ars để xưng tội. Năm 1859 người ta đếm hơn 120.000 người.
- Ngài chú tâm đến mọi chiều kích của con người. Ngài không ngừng giúp đỡ, làm dịu đau khổ, giúp cho người khác được hạnh phúc: viện mồ côi, trường học, lo cho người nghèo…
- Một tiếng mời gọi nên thánh cho toàn thế giới: “Je te montrerai le chemin du Ciel” (Cha sẽ chỉ cho con đường về Trời). Đó là lời ngài đáp lại trẻ chăn chiên đã chỉ cho ngài đường về xứ Ars. Ngài mời gọi mỗi người hãy để cho Thiên Chúa thánh hoá.
Thứ Tư, 3 tháng 8, 2016
Bài Giảng Thánh Lễ Bế Mạc Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới của Đức Phanxicô
Các bạn trẻ thân mến, các con đã đến Krakow để gặp Chúa Giêsu. Tin Mừng hôm nay nói với chúng ta chính cuộc gặp gỡ như thế giữa Chúa Giêsu và một người đàn ông tên là Giakêu, tại Jericho (Lc 19: 1-10). Ở đấy, Chúa Giêsu không chỉ rao giảng hay chào hỏi mọi người; như Thánh sử nói với chúng ta, Người đi qua thành phố (v. 1). Nói cách khác, Chúa Giêsu muốn đích thân đến gần chúng ta, để đi cùng với chúng ta trong cuộc hành trình của chúng ta cho đến lúc chót, để cuộc sống của Người và cuộc sống của chúng ta thực sự có thể gặp nhau.
Một cuộc gặp gỡ tuyệt vời sau đó đã diễn ra, với Giakêu, giám đốc thu thuế. Như thế, Giakêu là một cộng tác viên giàu có của những kẻ chiếm đóng La Mã đáng ghét, người bóc lột chính nhân dân của mình, một người, vì tiếng xấu của mình, thậm chí không thể tiếp cận Thầy. Cuộc gặp gỡ của ông với Chúa Giêsu đã thay đổi cuộc sống của ông, và hàng ngày vẫn có thể thay đổi mỗi cuộc đời của chúng ta. Nhưng Giakêu đã phải đối mặt với một số trở ngại mới được gặp Chúa Giêsu. Ít nhất ba trong số các trở ngại này cũng có thể nói một điều gì đó cho chúng ta.
Trở ngại đầu tiên là tầm vóc nhỏ bé. Giakêu không thể nhìn thấy Thầy, vì ông nhỏ con. Cả ngày nay, chúng ta cũng có thể có nguy cơ không đến gần được Chúa Giêsu, vì chúng ta không cảm thấy đủ lớn, bởi vì chúng ta không nghĩ rằng mình xứng đáng. Đây là một cám dỗ lớn; nó liên hệ không những với lòng tự trọng, mà còn với chính đức tin nữa. Vì đức tin cho chúng ta biết: chúng ta là "con cái của Thiên Chúa ... đó là điều chúng ta là" (1 Ga 3: 1). Chúng ta đã được tạo ra theo hình ảnh của Thiên Chúa; Chúa Giêsu đã mặc lấy nhân tính của chúng ta và trái tim Người sẽ không bao giờ xa cách chúng ta; Chúa Thánh Thần muốn ngự trong chúng ta. Chúng ta đã được kêu gọi để được hạnh phúc mãi mãi với Thiên Chúa!
Đó chính là "tầm vóc" đích thực của chúng ta, là bản sắc thiêng liêng của chúng ta: chúng ta là con cái yêu dấu của Thiên Chúa, luôn luôn. Vì vậy, các con có thể thấy rằng không chấp nhận chính mình, sống một cách rầu rĩ, tiêu cực, có nghĩa là không thừa nhận căn tính sâu xa nhất của chúng ta. Giống như ngoảnh đi khi Thiên Chúa muốn nhìn tôi, cố tình làm hỏng giấc mơ của Người đối với tôi. Thiên Chúa yêu thương chúng ta trong con người hiện hữu của chúng ta, và không tội, không lỗi hoặc sai lầm nào của chúng ta làm cho Người thay đổi tâm trí. Còn đối với Chúa Giêsu - như Tin Mừng cho thấy - không ai là bất xứng, hoặc xa rời suy nghĩ của Người. Không ai là không đáng kể. Người yêu thương tất cả chúng ta với một tình yêu đặc biệt; Đối với Người, tất cả chúng ta đều quan trọng: các con là quan trọng! Thiên Chúa trông mong các con vì con người các con, chứ không phải vì những gì các con sở hữu. Trong mắt Người, những bộ quần áo các con mặc hoặc các loại điện thoại di động các con sử dụng là hoàn toàn không có liên quan chi. Người không quan tâm việc các con có hợp mốt hay không; Người quan tâm đến các con! Trong mắt Người, các con quý giá, và giá trị của các con là vô giá.
Đôi khi, trong cuộc sống của chúng ta, chúng ta đặt mục tiêu thấp hơn thay vì cao hơn. Những lúc đó, tốt hơn nên nhận ra rằng Thiên Chúa vẫn trung thành, thậm chí còn cố chấp, trong tình yêu của Người dành cho chúng ta. Sự thực là, Người yêu thương chúng ta thậm chí còn nhiều hơn chúng ta yêu bản thân mình. Người tin chúng ta thậm chí còn nhiều hơn chúng ta tin tưởng vào chính mình. Người luôn "cổ vũ chúng ta"; Người là người hâm mộ lớn nhất của chúng ta. Người ở đó cho chúng ta, kiên nhẫn và hy vọng chờ đợi, ngay cả khi chúng ta quay vào trong chính mình và nghiền ngẫm các rắc rối và chấn thương trong quá khứ của mình. Nhưng nghiền ngẫm như vậy là không xứng đáng với tầm vóc thiêng liêng của chúng ta! Nó là một loại vi khuẩn lây nhiễm và ngăn chặn mọi sự; nó đóng mọi cánh cửa và ngăn cản chúng ta đứng dậy và bắt đầu lại. Mặt khác, Thiên Chúa là Đấng hy vọng một cách vô vọng! Người tin rằng chúng ta luôn luôn có thể đứng dậy, và Người ghét nhìn thấy chúng ta cau có và ảm đạm. Bởi vì chúng ta luôn là những con trai và con gái yêu quý của Người. Chúng ta hãy chú ý đến điều này vào hừng đông của mỗi ngày mới. Quả là điều tốt cho chúng ta nếu mỗi buổi sáng, ta đều cầu nguyện: "Lạy Chúa, con cảm ơn Chúa vì đã yêu thương con; xin giúp con biết yêu cuộc sống của chính con!" Không yêu lỗi lầm của con, là điều cần được sửa trị, nhưng yêu cuộc sống riêng của con, vốn là một hồng phúc tuyệt vời, vì đây là thời để yêu thương và được yêu thương.
Giakêu phải đối mặt với một trở ngại thứ hai trong cuộc gặp gỡ Chúa Giêsu: sự tê liệt do xấu hổ. Chúng ta có thể tưởng tượng những gì đang diễn ra trong trái tim ông trước khi ông leo lên cây sung đó. Đây hẳn phải là một cuộc đấu tranh - một đàng, là tò mò và uớc muốn lành mạnh được biết Chúa Giêsu; đàng khác, nguy cơ bị phát hiện như một người hoàn toàn kỳ cục. Giakêu là một nhân vật công cộng, một người đàn ông có quyền lực. Ông biết rằng, khi cố gắng leo lên cây đó, ông sẽ trở thành một trò cười cho mọi người. Tuy nhiên, ông làm chủ sự xấu hổ của mình, bởi vì sự lôi cuốn của Chúa Giêsu mạnh hơn. Các con biết điều gì xảy ra khi một người nào đó lôi cuốn đến nỗi chúng ta đem lòng yêu thương họ: kết cục, chúng ta sẵn sàng làm những điều mà chúng ta chưa bao giờ nghĩ mình sẽ làm. Một điều gì đó tương tự đã diễn ra trong trái tim Giakêu, khi ông nhận ra rằng Chúa Giêsu quan trọng đến nỗi ông sẵn sàng làm bất cứ điều gì cho Người, vì chỉ có Chúa Giêsu mới có thể kéo ông ra khỏi vũng lầy của tội lỗi và bất mãn. Sự tê liệt vì xấu hổ đã không cuỗm được tay trên. Tin Mừng cho chúng ta biết rằng Giakêu "chạy lên trước", "leo lên" cây, và rồi, khi Chúa Giêsu gọi ông, ông đã "vội vã leo xuống" (cc. 4, 6). Ông đã đánh liều, ông đã đặt cuộc sống của mình trên dây lơ lửng. Đối với chúng ta cũng thế, đây là bí quyết của niềm vui: không để sự tò mò lành mạnh bị ngột ngạt, nhưng đánh liều, bởi vì cuộc sống không phải là để bị giấu khuất. Khi nói đến Chúa Giêsu, chúng ta không thể khoanh tay ngồi chờ; Người hiến cho chúng ta sự sống - chúng ta không thể đáp ứng bằng cách ngồi nghĩ về nó hoặc "nhắn tin" vài lời!
Các bạn trẻ thân mến, đừng xấu hổ đem mọi sự kể cho Chúa trong tòa giải tội, đặc biệt là các điểm yếu của các con, các cuộc đấu tranh của các con và tội lỗi của các con. Người sẽ làm các con ngạc nhiên với sự tha thứ và bình an của Người. Đừng sợ nói chữ "có" với Người bằng cả trái tim của các con, đừng sợ đáp ứng một cách đại lượng và bước chân theo Người! Đừng để tâm hồn các con tê cóng, nhưng hãy nhắm mục tiêu yêu thương đẹp đẽ vốn cũng đòi hỏi hy sinh. Các con hãy nói "không" một cách cương quyết với thứ ma túy thành công bằng bất cứ giá nào và thuốc an thần chỉ biết lo lắng về bản thân và sự thoải mái của riêng các con.
Sau tầm vóc nhỏ bé và sự tê liệt vì xấu hổ của mình, có một trở ngại thứ ba mà Giakêu phải đối mặt. Nó không phải là một trở ngại nội tâm, nhưng là ở quanh ông. Đó là sự tức giận của đám đông; đầu tiên họ ngăn chặn ông và sau đó chỉ trích ông: Làm thế nào Chúa Giêsu lại có thể bước vào nhà ông, nhà của một kẻ tội lỗi! Chào đón Chúa Giêsu, chấp nhận một "Thiên Chúa giàu lòng thương xót" (Eph 2: 4) quả thực khó khăn xiết bao! Người ta sẽ cố gắng ngăn chặn các con, làm cho các con nghĩ rằng Thiên Chúa là Đấng xa xôi, cứng ngắc và vô cảm, tốt với người tốt và xấu với kẻ xấu. Thay vào đó, Cha chúng ta trên trời "khiến mặt trời của Người mọc cả trên người xấu và người tốt" (Mt 5:45). Người đòi hỏi chúng ta can đảm thực sự: can đảm để mạnh mẽ hơn cả sự ác bằng cách yêu thương mọi người, ngay cả kẻ thù của chúng ta. Người ta có thể cười nhạo các con vì các con tin vào sức mạnh nhẹ nhàng và khiêm tốn của lòng thương xót.
Nhưng đừng sợ. Các con hãy nghĩ tới huy hiệu của những ngày này: "Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được thương xót" (Mt 5: 7). Người ta có thể xét đoán các con là người mơ mộng, bởi vì các con tin vào một nhân loại mới, một nhân loại bác bỏ hận thù giữa các dân tộc, một nhân loại từ chối không coi biên giới như các rào cản và có thể trân trọng các truyền thống riêng của mình mà không lấy mình làm trung tâm hay có đầu óc nhỏ mọn. Đừng nản lòng: với một nụ cười và vòng tay rộng mở, các con hãy loan truyền niềm hy vọng và các con là một chúc phúc đối với gia đình nhân loại của chúng ta, mà ở đây các con là đại diện một cách đẹp đẽ!
Ngày hôm đó, đám đông xét đoán Giakêu; họ dò xét ông, lúc trọng lúc khinh. Nhưng Chúa Giêsu đã làm điều ngược lại: Người từ dưới nhìn lên ông (v 5.). Chúa Giêsu nhìn bên kia các lỗi lầm và thấy con người của họ. Người không dừng lại trước cái xấu đã qua, nhưng nhìn ra tương lai tốt đẹp. Ánh mắt Người không thay đổi, ngay cả khi nó không được đáp ứng; nó tìm cách đoàn kết và hiệp thông. Không có trường hợp nào nó ngưng ở những dáng vẻ bề ngoài, nhưng nhìn thẳng vào trái tim. Với cái nhìn của Chúa Giêsu, các con có thể giúp mang lại một nhân loại khác, mà không cần tìm kiếm sự thừa nhận nhưng tìm kiếm sự tốt đẹp vì chính nó, bằng lòng duy trì một trái tim tinh khiết và chiến đấu một cách hòa bình cho sự trung thực và công lý. Không dừng lại ở bề mặt của sự vật; không tin vào sự sùng bái của thế gian đối với dáng bề ngoài, các cố gắng thẩm mỹ nhằm cải thiện dáng vẻ của chúng ta. Thay vào đó, hãy "tải xuống" cái "liên kết" tốt nhất, đó là một trái tim biết nhìn thấy và loan tuyền sự tốt lành một cách không mệt mỏi. Niềm vui mà các con đã tự do nhận được từ Thiên Chúa, các con hãy tự do cho đi (x Mt10: 8): rất nhiều người đang chờ đợi nó!
Cuối cùng chúng ta hãy lắng nghe những lời Chúa Giêsu nói với Giakêu, những lời dường như có ý dành cho chúng ta hôm nay: "Hãy xuống đây, vì tôi phải ở lại nhà của ông ngày hôm nay" (câu 5.). Chúa Giêsu ngỏ cùng một lời mời ấy với các con: "Cha phải ở lại nhà của các con ngày hôm nay". Chúng ta có thể nói rằng Ngày Giới trẻ Thế giới bắt đầu ngày hôm nay và tiếp tục vào ngày mai, trong ngôi nhà của các con, vì đó là nơi mà Chúa Giêsu muốn được gặp các các con từ bây giờ. Chúa không muốn ở lại trong thành phố xinh đẹp này, hoặc trong ký ức yêu thương mà thôi. Người muốn vào nhà của các con, cư ngụ trong cuộc sống hàng ngày của các con: trong việc học hành của các con, năm đầu làm việc của các con, tình bạn và tình âu yếm của các con, hy vọng và ước mơ của các con. Người hy vọng xiết bao rằng trong mọi “liên lạc” và “tán gẫu” hàng ngày, chỗ danh dự phải được dành cho sợi chỉ vàng xuyên suốt của cầu nguyện! Người mong muốn xiết bao được thấy lời Người có thể ngỏ với các con ngày qua ngày, để các con có thể biến Tin Mừng thành của riêng các con, để nó có thể phục vụ như một la bàn cho các đường cao tốc của cuộc sống!
Khi yêu cầu được đến nhà các con, Chúa Giêsu đã gọi các con bằng tên, như đã làm với Giakêu. Tên của các con quý giá đối với Người. Cái tên "Giakêu" có thể làm cho người ta nghĩ tới việc tưởng nhớ tới Thiên Chúa. Hãy tin tưởng vào bộ nhớ của Thiên Chúa: bộ nhớ của Người không phải là một "đĩa cứng" có thể "lưu" và "trữ" tất cả các dữ liệu của chúng ta, nhưng là một trái tim đầy lòng từ bi dịu dàng, một trái tim biết tìm niềm vui trong việc "xóa bỏ" trong chúng ta mọi dấu vết của cái ác. Ước mong cả chúng ta bây giờ cũng cố gắng bắt chước các bộ nhớ trung thành của Thiên Chúa và lưu trữ những điều tốt mà chúng ta đã nhận được trong những ngày này. Trong im lặng, chúng ta hãy ghi nhớ cuộc gặp gỡ này, chúng ta hãy duy trì kí ức về sự hiện diện của Thiên Chúa và lời lẽ của Người, và chúng ta hãy lắng nghe một lần nữa tiếng nói của Chúa Giêsu khi Người gọi chúng ta bằng tên. Vì vậy, bây giờ, chúng ta hãy cầu nguyện âm thầm, nhớ lại và cảm ơn Chúa đã muốn chúng ta ở đây và đã đến đây để gặp chúng ta.
Một cuộc gặp gỡ tuyệt vời sau đó đã diễn ra, với Giakêu, giám đốc thu thuế. Như thế, Giakêu là một cộng tác viên giàu có của những kẻ chiếm đóng La Mã đáng ghét, người bóc lột chính nhân dân của mình, một người, vì tiếng xấu của mình, thậm chí không thể tiếp cận Thầy. Cuộc gặp gỡ của ông với Chúa Giêsu đã thay đổi cuộc sống của ông, và hàng ngày vẫn có thể thay đổi mỗi cuộc đời của chúng ta. Nhưng Giakêu đã phải đối mặt với một số trở ngại mới được gặp Chúa Giêsu. Ít nhất ba trong số các trở ngại này cũng có thể nói một điều gì đó cho chúng ta.
Trở ngại đầu tiên là tầm vóc nhỏ bé. Giakêu không thể nhìn thấy Thầy, vì ông nhỏ con. Cả ngày nay, chúng ta cũng có thể có nguy cơ không đến gần được Chúa Giêsu, vì chúng ta không cảm thấy đủ lớn, bởi vì chúng ta không nghĩ rằng mình xứng đáng. Đây là một cám dỗ lớn; nó liên hệ không những với lòng tự trọng, mà còn với chính đức tin nữa. Vì đức tin cho chúng ta biết: chúng ta là "con cái của Thiên Chúa ... đó là điều chúng ta là" (1 Ga 3: 1). Chúng ta đã được tạo ra theo hình ảnh của Thiên Chúa; Chúa Giêsu đã mặc lấy nhân tính của chúng ta và trái tim Người sẽ không bao giờ xa cách chúng ta; Chúa Thánh Thần muốn ngự trong chúng ta. Chúng ta đã được kêu gọi để được hạnh phúc mãi mãi với Thiên Chúa!
Đó chính là "tầm vóc" đích thực của chúng ta, là bản sắc thiêng liêng của chúng ta: chúng ta là con cái yêu dấu của Thiên Chúa, luôn luôn. Vì vậy, các con có thể thấy rằng không chấp nhận chính mình, sống một cách rầu rĩ, tiêu cực, có nghĩa là không thừa nhận căn tính sâu xa nhất của chúng ta. Giống như ngoảnh đi khi Thiên Chúa muốn nhìn tôi, cố tình làm hỏng giấc mơ của Người đối với tôi. Thiên Chúa yêu thương chúng ta trong con người hiện hữu của chúng ta, và không tội, không lỗi hoặc sai lầm nào của chúng ta làm cho Người thay đổi tâm trí. Còn đối với Chúa Giêsu - như Tin Mừng cho thấy - không ai là bất xứng, hoặc xa rời suy nghĩ của Người. Không ai là không đáng kể. Người yêu thương tất cả chúng ta với một tình yêu đặc biệt; Đối với Người, tất cả chúng ta đều quan trọng: các con là quan trọng! Thiên Chúa trông mong các con vì con người các con, chứ không phải vì những gì các con sở hữu. Trong mắt Người, những bộ quần áo các con mặc hoặc các loại điện thoại di động các con sử dụng là hoàn toàn không có liên quan chi. Người không quan tâm việc các con có hợp mốt hay không; Người quan tâm đến các con! Trong mắt Người, các con quý giá, và giá trị của các con là vô giá.
Đôi khi, trong cuộc sống của chúng ta, chúng ta đặt mục tiêu thấp hơn thay vì cao hơn. Những lúc đó, tốt hơn nên nhận ra rằng Thiên Chúa vẫn trung thành, thậm chí còn cố chấp, trong tình yêu của Người dành cho chúng ta. Sự thực là, Người yêu thương chúng ta thậm chí còn nhiều hơn chúng ta yêu bản thân mình. Người tin chúng ta thậm chí còn nhiều hơn chúng ta tin tưởng vào chính mình. Người luôn "cổ vũ chúng ta"; Người là người hâm mộ lớn nhất của chúng ta. Người ở đó cho chúng ta, kiên nhẫn và hy vọng chờ đợi, ngay cả khi chúng ta quay vào trong chính mình và nghiền ngẫm các rắc rối và chấn thương trong quá khứ của mình. Nhưng nghiền ngẫm như vậy là không xứng đáng với tầm vóc thiêng liêng của chúng ta! Nó là một loại vi khuẩn lây nhiễm và ngăn chặn mọi sự; nó đóng mọi cánh cửa và ngăn cản chúng ta đứng dậy và bắt đầu lại. Mặt khác, Thiên Chúa là Đấng hy vọng một cách vô vọng! Người tin rằng chúng ta luôn luôn có thể đứng dậy, và Người ghét nhìn thấy chúng ta cau có và ảm đạm. Bởi vì chúng ta luôn là những con trai và con gái yêu quý của Người. Chúng ta hãy chú ý đến điều này vào hừng đông của mỗi ngày mới. Quả là điều tốt cho chúng ta nếu mỗi buổi sáng, ta đều cầu nguyện: "Lạy Chúa, con cảm ơn Chúa vì đã yêu thương con; xin giúp con biết yêu cuộc sống của chính con!" Không yêu lỗi lầm của con, là điều cần được sửa trị, nhưng yêu cuộc sống riêng của con, vốn là một hồng phúc tuyệt vời, vì đây là thời để yêu thương và được yêu thương.
Giakêu phải đối mặt với một trở ngại thứ hai trong cuộc gặp gỡ Chúa Giêsu: sự tê liệt do xấu hổ. Chúng ta có thể tưởng tượng những gì đang diễn ra trong trái tim ông trước khi ông leo lên cây sung đó. Đây hẳn phải là một cuộc đấu tranh - một đàng, là tò mò và uớc muốn lành mạnh được biết Chúa Giêsu; đàng khác, nguy cơ bị phát hiện như một người hoàn toàn kỳ cục. Giakêu là một nhân vật công cộng, một người đàn ông có quyền lực. Ông biết rằng, khi cố gắng leo lên cây đó, ông sẽ trở thành một trò cười cho mọi người. Tuy nhiên, ông làm chủ sự xấu hổ của mình, bởi vì sự lôi cuốn của Chúa Giêsu mạnh hơn. Các con biết điều gì xảy ra khi một người nào đó lôi cuốn đến nỗi chúng ta đem lòng yêu thương họ: kết cục, chúng ta sẵn sàng làm những điều mà chúng ta chưa bao giờ nghĩ mình sẽ làm. Một điều gì đó tương tự đã diễn ra trong trái tim Giakêu, khi ông nhận ra rằng Chúa Giêsu quan trọng đến nỗi ông sẵn sàng làm bất cứ điều gì cho Người, vì chỉ có Chúa Giêsu mới có thể kéo ông ra khỏi vũng lầy của tội lỗi và bất mãn. Sự tê liệt vì xấu hổ đã không cuỗm được tay trên. Tin Mừng cho chúng ta biết rằng Giakêu "chạy lên trước", "leo lên" cây, và rồi, khi Chúa Giêsu gọi ông, ông đã "vội vã leo xuống" (cc. 4, 6). Ông đã đánh liều, ông đã đặt cuộc sống của mình trên dây lơ lửng. Đối với chúng ta cũng thế, đây là bí quyết của niềm vui: không để sự tò mò lành mạnh bị ngột ngạt, nhưng đánh liều, bởi vì cuộc sống không phải là để bị giấu khuất. Khi nói đến Chúa Giêsu, chúng ta không thể khoanh tay ngồi chờ; Người hiến cho chúng ta sự sống - chúng ta không thể đáp ứng bằng cách ngồi nghĩ về nó hoặc "nhắn tin" vài lời!
Các bạn trẻ thân mến, đừng xấu hổ đem mọi sự kể cho Chúa trong tòa giải tội, đặc biệt là các điểm yếu của các con, các cuộc đấu tranh của các con và tội lỗi của các con. Người sẽ làm các con ngạc nhiên với sự tha thứ và bình an của Người. Đừng sợ nói chữ "có" với Người bằng cả trái tim của các con, đừng sợ đáp ứng một cách đại lượng và bước chân theo Người! Đừng để tâm hồn các con tê cóng, nhưng hãy nhắm mục tiêu yêu thương đẹp đẽ vốn cũng đòi hỏi hy sinh. Các con hãy nói "không" một cách cương quyết với thứ ma túy thành công bằng bất cứ giá nào và thuốc an thần chỉ biết lo lắng về bản thân và sự thoải mái của riêng các con.
Sau tầm vóc nhỏ bé và sự tê liệt vì xấu hổ của mình, có một trở ngại thứ ba mà Giakêu phải đối mặt. Nó không phải là một trở ngại nội tâm, nhưng là ở quanh ông. Đó là sự tức giận của đám đông; đầu tiên họ ngăn chặn ông và sau đó chỉ trích ông: Làm thế nào Chúa Giêsu lại có thể bước vào nhà ông, nhà của một kẻ tội lỗi! Chào đón Chúa Giêsu, chấp nhận một "Thiên Chúa giàu lòng thương xót" (Eph 2: 4) quả thực khó khăn xiết bao! Người ta sẽ cố gắng ngăn chặn các con, làm cho các con nghĩ rằng Thiên Chúa là Đấng xa xôi, cứng ngắc và vô cảm, tốt với người tốt và xấu với kẻ xấu. Thay vào đó, Cha chúng ta trên trời "khiến mặt trời của Người mọc cả trên người xấu và người tốt" (Mt 5:45). Người đòi hỏi chúng ta can đảm thực sự: can đảm để mạnh mẽ hơn cả sự ác bằng cách yêu thương mọi người, ngay cả kẻ thù của chúng ta. Người ta có thể cười nhạo các con vì các con tin vào sức mạnh nhẹ nhàng và khiêm tốn của lòng thương xót.
Nhưng đừng sợ. Các con hãy nghĩ tới huy hiệu của những ngày này: "Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được thương xót" (Mt 5: 7). Người ta có thể xét đoán các con là người mơ mộng, bởi vì các con tin vào một nhân loại mới, một nhân loại bác bỏ hận thù giữa các dân tộc, một nhân loại từ chối không coi biên giới như các rào cản và có thể trân trọng các truyền thống riêng của mình mà không lấy mình làm trung tâm hay có đầu óc nhỏ mọn. Đừng nản lòng: với một nụ cười và vòng tay rộng mở, các con hãy loan truyền niềm hy vọng và các con là một chúc phúc đối với gia đình nhân loại của chúng ta, mà ở đây các con là đại diện một cách đẹp đẽ!
Ngày hôm đó, đám đông xét đoán Giakêu; họ dò xét ông, lúc trọng lúc khinh. Nhưng Chúa Giêsu đã làm điều ngược lại: Người từ dưới nhìn lên ông (v 5.). Chúa Giêsu nhìn bên kia các lỗi lầm và thấy con người của họ. Người không dừng lại trước cái xấu đã qua, nhưng nhìn ra tương lai tốt đẹp. Ánh mắt Người không thay đổi, ngay cả khi nó không được đáp ứng; nó tìm cách đoàn kết và hiệp thông. Không có trường hợp nào nó ngưng ở những dáng vẻ bề ngoài, nhưng nhìn thẳng vào trái tim. Với cái nhìn của Chúa Giêsu, các con có thể giúp mang lại một nhân loại khác, mà không cần tìm kiếm sự thừa nhận nhưng tìm kiếm sự tốt đẹp vì chính nó, bằng lòng duy trì một trái tim tinh khiết và chiến đấu một cách hòa bình cho sự trung thực và công lý. Không dừng lại ở bề mặt của sự vật; không tin vào sự sùng bái của thế gian đối với dáng bề ngoài, các cố gắng thẩm mỹ nhằm cải thiện dáng vẻ của chúng ta. Thay vào đó, hãy "tải xuống" cái "liên kết" tốt nhất, đó là một trái tim biết nhìn thấy và loan tuyền sự tốt lành một cách không mệt mỏi. Niềm vui mà các con đã tự do nhận được từ Thiên Chúa, các con hãy tự do cho đi (x Mt10: 8): rất nhiều người đang chờ đợi nó!
Cuối cùng chúng ta hãy lắng nghe những lời Chúa Giêsu nói với Giakêu, những lời dường như có ý dành cho chúng ta hôm nay: "Hãy xuống đây, vì tôi phải ở lại nhà của ông ngày hôm nay" (câu 5.). Chúa Giêsu ngỏ cùng một lời mời ấy với các con: "Cha phải ở lại nhà của các con ngày hôm nay". Chúng ta có thể nói rằng Ngày Giới trẻ Thế giới bắt đầu ngày hôm nay và tiếp tục vào ngày mai, trong ngôi nhà của các con, vì đó là nơi mà Chúa Giêsu muốn được gặp các các con từ bây giờ. Chúa không muốn ở lại trong thành phố xinh đẹp này, hoặc trong ký ức yêu thương mà thôi. Người muốn vào nhà của các con, cư ngụ trong cuộc sống hàng ngày của các con: trong việc học hành của các con, năm đầu làm việc của các con, tình bạn và tình âu yếm của các con, hy vọng và ước mơ của các con. Người hy vọng xiết bao rằng trong mọi “liên lạc” và “tán gẫu” hàng ngày, chỗ danh dự phải được dành cho sợi chỉ vàng xuyên suốt của cầu nguyện! Người mong muốn xiết bao được thấy lời Người có thể ngỏ với các con ngày qua ngày, để các con có thể biến Tin Mừng thành của riêng các con, để nó có thể phục vụ như một la bàn cho các đường cao tốc của cuộc sống!
Khi yêu cầu được đến nhà các con, Chúa Giêsu đã gọi các con bằng tên, như đã làm với Giakêu. Tên của các con quý giá đối với Người. Cái tên "Giakêu" có thể làm cho người ta nghĩ tới việc tưởng nhớ tới Thiên Chúa. Hãy tin tưởng vào bộ nhớ của Thiên Chúa: bộ nhớ của Người không phải là một "đĩa cứng" có thể "lưu" và "trữ" tất cả các dữ liệu của chúng ta, nhưng là một trái tim đầy lòng từ bi dịu dàng, một trái tim biết tìm niềm vui trong việc "xóa bỏ" trong chúng ta mọi dấu vết của cái ác. Ước mong cả chúng ta bây giờ cũng cố gắng bắt chước các bộ nhớ trung thành của Thiên Chúa và lưu trữ những điều tốt mà chúng ta đã nhận được trong những ngày này. Trong im lặng, chúng ta hãy ghi nhớ cuộc gặp gỡ này, chúng ta hãy duy trì kí ức về sự hiện diện của Thiên Chúa và lời lẽ của Người, và chúng ta hãy lắng nghe một lần nữa tiếng nói của Chúa Giêsu khi Người gọi chúng ta bằng tên. Vì vậy, bây giờ, chúng ta hãy cầu nguyện âm thầm, nhớ lại và cảm ơn Chúa đã muốn chúng ta ở đây và đã đến đây để gặp chúng ta.
Thứ Ba, 2 tháng 8, 2016
Bài chia sẻ của ĐTC Phanxicô với giới trẻ trong Lễ Chào Mừng
Xem lại video buổi Lễ Chào Mừng tại: https://www.youtube.com/watch?v=_RV...
Các bạn trẻ thân mến, chúc một buổi tối tốt lành!
Cuối cùng thì chúng ta đã ở bên nhau! Cảm ơn sự chào đón nồng ấm của các bạn! Tôi cũng cám ơn Đức Hồng Y Dziwisz, các giám mục, linh mục, nam nữ tu sĩ, các chủng sinh và những người đã đi cùng quý vị. Tôi cũng biết ơn tất cả những người đã làm cho chúng ta có thể hiện diện ở đây ngày hôm nay, những người “đã đi muôn dặm đường” để chúng ta có thể cử hành đức tin của mình.
Tại đây, nơi vùng đất mà ngài được sinh ra, cha đặc biệt muốn tạ ơn Thánh Gioan Phaolô II, đấng đã có sáng kiến về cuộc gặp gỡ này và mang đến cho nó nguồn động lực. Từ trên thiên đàng, ngài vẫn ở cùng chúng ta và ngài nhìn thấy tất cả các bạn: rất nhiều bạn trẻ đến từ khắp các quốc gia, các nền văn hóa và ngôn ngữ nhưng với một mục tiêu, đó là niềm hân hoan vì Chúa Giêsu đang sống giữa chúng ta. Phải nói rằng Chúa Giêsu hằng sống, thắp lên lại sự nhiệt tâm để chúng ta bước theo ngài, làm mới mẻ niềm ước ao mong mỏi để chúng ta trở thành môn đệ của ngài.
Để làm mới tình thân hữu giữa chúng ta với Chúa Giêsu, còn cơ hội nào tốt hơn cho bằng xây dựng tình thân hữu với người xung quanh mình! Để xây dựng tình thân hữu giữa chúng ta với Chúa Giêsu, còn phương thế nào tốt hơn cho bằng chia sẻ nó với người khác! Để trải nghiệm niềm vui lan tỏa Phúc Âm, còn cách thức nào tốt hơn cho bằng phấn đấu đem Phúc Âm đến cho những thảm trạng đau khổ và khó khăn!
Chúa Giêsu mời gọi chúng ta đến với Ngày Giới Trẻ Thế Giới lần thứ XXXI này. Chúa Giêsu nói với chúng ta: "Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương" (Mt 5: 7). Phúc thay cho những ai có thể tha thứ, những ai biết chân thành cảm thông, những ai có thể mang những gì tốt đẹp nhất của chính mình đến cho người khác.
Các bạn trẻ thân mến, những ngày ở Ba Lan này mang tâm trạng của lễ hội; những ngày ở Ba Lan này muốn trở nên dung mạo tươi trẻ của lòng thương xót. Từ vùng đất này, các bạn và tất cả những người không thể hiện diện tại đây nhưng đang tham dự bằng các phương tiện truyền thông khác nhau, chúng ta sẽ làm cho Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới là một Lễ Hội Thánh đích thực.
Trong những năm còn làm giám mục, cha đã cảm nghiệm được một điều. Không có gì đẹp đẽ hơn cho bằng nhìn thấy được rất nhiều bạn trẻ đang sống cuộc đời của họ với sự hăng hái, tâm huyết, nhiệt tình và năng lượng. Khi Chúa Giêsu chạm đến tâm hồn của một người trẻ, họ sẽ có năng lực làm nên những điều thực sự vĩ đại. Thật thú vị khi được lắng nghe các bạn chia sẻ những ước mơ của mình, lắng nghe những vấn đề và khúc mắc của các bạn với những ai cho rằng điều này không thể thay đổi gì. Đối với cha, đây là một hồng ân của Thiên Chúa khi được nhìn thấy rất nhiều bạn, với tất cả những câu hỏi của các bạn để tạo ra một sự khác biệt. Thật đẹp đẽ và ấm áp khi được nhìn thấy những sự nao nức của các bạn! Giáo Hội ngày nay nhìn vào các bạn và muốn học hỏi từ các bạn, để được vững tin rằng Lòng thương xót của Chúa Cha luôn mang một dung mạo tươi trẻ, và không ngừng mời gọi chúng ta làm thần dân trong vương quốc của ngài.
Cha biết các bạn có lòng nhiệt thành truyền giáo, nên cha nhắc lại: lòng thương xót luôn có một dung mạo tươi trẻ! Bởi vì một tâm hồn nhân hậu được thôi thúc phải đi ra khỏi vùng thoải mái của chính nó. Một tâm hồn nhân hậu phải đi ra ngoài và gặp gỡ những người khác; sẵn sàng đón nhận tất cả mọi người. Một tâm hồn nhân hậu phải là một nơi nương náu cho những người không có hoặc đã mất đi mái ấm của họ; xây dựng một ngôi nhà và một gia đình cho những ai bị buộc phải di cư; nó thấu hiểu thế nào là sự dịu dàng và từ bi. Một tâm hồn nhân hậu phải chia sẻ chiếc bánh của mình với những người đang đói, đón chào những người tị nạn và di cư. Nói lên chữ "thương xót" cùng với các bạn là nói về cơ hội, về tương lai, về lời cam kết, về sự tin tưởng, về lòng cởi mở, về tình hiếu khách, về lòng từ bi và về những giấc mơ. Hãy để cha kể cho các bạn một mà điều cha đã cảm nghiệm được trong những năm qua. Cha rất đau buồn khi thấy những bạn trẻ dường như đã chọn cách "nghỉ hưu non". Cha lo lắng khi nhìn thấy những bạn trẻ đã chịu "bỏ cuộc" dù trận đấu chỉ vừa mới bắt đầu, nhìn thấy những bạn đã chịu bại trận trước khi họ bước vào cuộc thi, nhìn thấy những bạn đi thất thểu như thể cuộc đời này không có ý nghĩa gì. Những bạn trẻ này thực sự đang rất buồn bã và chán nản! Nhưng cũng thật là khó khăn và ưu phiền khi thấy những bạn trẻ khác lại lãng phí cuộc đời mình vào việc tìm kiếm những ảo giác mạnh hoặc chọn cách sống giữa con đường tối tăm, rồi cuối cùng phải trả giá vì nó ... và phải trả bằng cái giá rất đắt.
Vì vậy, cha xin hỏi các bạn: Các bạn đang tìm kiếm ảo giác trống rỗng trong cuộc đời, hay là các bạn muốn cảm nhận một nguồn lực có thể mang đến cho các bạn một cảm giác dài lâu viên mãn trong cuộc đời? Tìm ảo giác trống rỗng, hay tìm nguồn lực của ân sủng? Để tìm cảm giác viên mãn ấy, để đạt được nguồn lực mới mẻ ấy, chỉ có một cách. Đây không phải là một điều gì đó hay một đối tượng gì đó, nhưng là một người cụ thể, một người đang sống. Tên của ngài là Chúa Giêsu Kitô.Lại cũng rất phiền muộn khi thấy những bạn trẻ đã lãng phí những năm tháng tươi đẹp nhất của cuộc đời mình, lãng phí sức lực của mình vào việc chạy theo những kẻ rao bán những ảo tưởng phù phiếm (ở quê hương cha, người ta gọi chúng là "những kẻ mang đến làn khói trắng"), chúng đã cướp đi những điều tốt đẹp nhất của các bạn. Chúng ta đang gặp gỡ nơi đây để giúp đỡ nhau, bởi vì chúng ta không muốn bị cướp đi những điều tốt đẹp nhất của chúng ta. Chúng ta không muốn bị cướp đi sức lực của chúng ta, niềm vui của chúng ta, những giấc mơ của chúng ta bằng những ảo tưởng phù phiếm.
Chúa Giêsu có thể mang đến cho các bạn niềm đam mê đích thực cho cuộc đời. Chúa Giêsu có thể truyền cảm hứng để chúng ta không chấp nhận những thứ thấp hèn, nhưng khao khát những gì tốt đẹp nhất. Chúa Giêsu khuyến khích chúng ta, thôi thúc chúng ta và giúp đỡ chúng ta tiếp tục cố gắng mỗi khi chúng ta bị cám dỗ phải bỏ cuộc. Chúa Giêsu nâng đỡ chúng ta hướng tâm lên và mơ về những điều vĩ đại.
Trong Phúc Âm, chúng ta nghe kể Chúa Giêsu khi trên đường lên Giêrusalem, ngài dừng chân tại một ngôi nhà - đó là nhà của Mátta, Maria và Lazarô - và ngài đã được nghênh đón. Ngài dừng lại, đi vào và dành thời gian ở với họ. Hai người phụ nữ ấy chào đón ngài bởi vì họ biết ngài cởi mở và chu toàn. Nhiều công việc và trách nhiệm có thể làm cho chúng ta gần giống như cô chị Mátta: bận rộn, tất bật, không ngừng chạy từ nơi này đến nơi kia... nhưng chúng ta cũng có thể giống như cô em Maria: mỗi khi chúng ta nhìn thấy một cảnh quan đẹp, hoặc nhìn vào một đoạn video của một người bạn trong điện thoại di động, chúng ta dừng lại và ngẫm nghĩ, dừng lại và lắng nghe... Trong những ngày này, Chúa Giêsu muốn dừng lại và vào nhà của chúng ta. Ngài sẽ nhìn vào chúng ta với những cái tất bật của chúng ta, như ngài đã từng làm như vậy với cô Mátta... và ngài cũng sẽ trông chờ chúng ta lắng nghe ngài, như cô Maria, để dành cho ngài một không gian trong bối cảnh bộn bề. Hãy phó dâng những ngày này cho Chúa Giêsu và lắng nghe nhau. Những người có thể giúp chúng ta đón nhận Chúa Giêsu là những người mà chúng ta đang chia sẻ cùng một ngôi nhà của mình, khu phố của mình, nhóm bạn của mình và ngôi trường của mình.
Lòng thương xót có dung mạo tươi trẻ. Giống như của cô Maria làng Bêtania, người môn đệ đã ngồi dưới chân Chúa Giêsu và vui vẻ lắng nghe lời ngài, khi cô biết rằng như thế là cô sẽ tìm được bình an. Cũng giống như của Mẹ Maria thành Nazareth, đã mạnh dạn nói lời “xin vâng” để bắt đầu bước vào cuộc phiêu lưu của lòng thương xót. Muôn thế hệ sẽ gọi Mẹ đầy ơn phúc; với tất cả chúng ta, Mẹ là "Mẹ của Lòng thương xót".Bất cứ ai chào đón Chúa Giêsu đều học cách yêu thương như Chúa Giêsu. Vì vậy, ngài đã hỏi chúng ta rằng liệu chúng ta có muốn một cuộc đời tròn đầy hay không: Các bạn có muốn một cuộc đời viên mãn hay không? Hãy bắt đầu bằng cách cho phép mình được cởi mở và chu toàn! Bởi vì hạnh phúc được gieo vào và nở hoa nơi lòng thương xót. Đó chính là câu trả lời của ngài, lời đề nghị của ngài, thách đố của ngài, cuộc phiêu lưu của ngài: đều quy về lòng thương xót.
Tất cả chúng ta hãy cùng nhau khẩn xin Chúa: "Khởi động chúng con vào cuộc phiêu lưu của lòng thương xót! Khởi động chúng vào cuộc phiêu lưu xây dựng những nhịp cầu và phá dỡ những bức tường ngăn, hàng rào và dây thép gai. Khởi động chúng con vào cuộc phiêu lưu giúp đỡ người nghèo, những người cảm thấy cô đơn và bị bỏ rơi, hoặc những ai không còn tìm thấy ý nghĩa cuộc đời mình. Xin cho chúng con như cô Maria làng Bêtania, biết chăm chú lắng nghe những người chúng con không hiểu, những người thuộc các nền văn hóa và các dân tộc khác, ngay cả những người chúng ta e sợ vì coi họ là một mối đe dọa. Xin cho chúng con biết quan tâm tới những người cao niên của chúng con, như Đức Mẹ Maria thành Nazareth đối với Bà Elizabeth, để học hỏi sự khôn ngoan của họ.
Lạy Chúa, này chúng con đây! Xin sai chúng con đi chia sẻ tình yêu thương xót của Chúa. Chúng con muốn chào đón Chúa ở giữa chúng con trong Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới này. Chúng con muốn khẳng định rằng cuộc đời của chúng con được viên mãn khi được định hình bởi lòng thương xót, vì đó là điều tốt hơn, và nó sẽ không bao giờ bị lấy đi khỏi chúng con.

Đức Thánh Cha Phanxicô: Sự ác không chấm dứt ở Auschwitz
“Mỗi người ở đây là một tội nhân. Tất cả chúng ta đều có gánh nặng của tội lỗi chúng ta. (Đức Thánh Cha hỏi: Ở đây là người không có tội, xin giơ tay lên!) Nhưng Thiên Chúa yêu chúng ta: Người yêu chúng ta! Hãy cùng nhau cầu nguyện cho những người này, những người ngày nay đang đau khổ trên thế giới có quá nhiều, quá nhiều sự xấu. Và khi có nước mắt, em bé tìm kiếm mẹ của mình. Ngay cả chúng ta các tội nhân, chúng ta là những em bé, chúng ta tìm đến mẹ của chúng ta và cùng nhau cầu nguyện với Đức Mẹ của chúng ta, mỗi người bằng ngôn ngữ của mình” - Đức Giáo Hoàng Phanxicô, ngày 29.07.2016
http://vi.radiovaticana.va/news/2016/07/30/%C4%91%E1%BB%A9c_th%C3%A1nh_cha_phanxic%C3%B4_s%E1%BB%B1_%C3%A1c_kh%C3%B4ng_ch%E1%BA%A5m_d%E1%BB%A9t_%E1%BB%9F_auschwitz_/1247959
http://vi.radiovaticana.va/news/2016/07/30/%C4%91%E1%BB%A9c_th%C3%A1nh_cha_phanxic%C3%B4_s%E1%BB%B1_%C3%A1c_kh%C3%B4ng_ch%E1%BA%A5m_d%E1%BB%A9t_%E1%BB%9F_auschwitz_/1247959
Bài chia sẻ của ĐTC Phanxicô sau buổi Đàng Thánh Giá 29/7/2016
Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn;
Ta khát, các ngươi đã cho uống;
Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước;
Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc;
Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han. (Mt 25: 35-36).
Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng;
Những lời này của Chúa Giêsu đã trả lời cho câu hỏi luôn thường trực trong lý trí và tâm hồn của chúng ta rằng: "Thiên Chúa ở đâu?".
Thiên Chúa ở đâu, nếu sự dữ vẫn đang hiện diện trong thế giới của chúng ta, nếu vẫn còn có những người đang đói khát, vô gia cư, những người lưu vong và những người tị nạn? Thiên Chúa ở đâu, khi có người vô tội phải chết vì bạo lực, khủng bố và chiến tranh? Thiên Chúa ở đâu, khi hội chứng vô cảm đã tàn phá những ràng buộc của đời sống và tình cảm? Hoặc khi trẻ em bị bóc lột và xâm hại, để rồi họ phải gánh chịu những tổn thương nghiêm trọng? Thiên Chúa ở đâu, khi còn có những người đau khổ vì mất phương hướng hoặc gặp rắc rối trong tinh thần?
Đây là những câu hỏi mà nhân loại không có câu trả lời. Chúng ta chỉ có thể tìm đến Chúa Giêsu mà hỏi ngài. Và câu trả lời của Chúa Giêsu là: "Thiên Chúa ở trong họ". Chúa Giêsu ở trong họ; ngài tự hãm mình ngự trong họ và đồng hóa sâu sắc với từng người. Ngài kết hiệp chặt chẽ với họ để đồng hình đồng dạng với họ, đó gọi là "một thân thể".

Chính Chúa Giêsu đã chọn để đồng hóa với những anh chị em của chúng ta đang chịu đau đớn và thống khổ bằng cách cùng bước đi trên "con đường khổ nạn" dẫn tới Canvê. Bằng cái chết ở trên thập giá, ngài phó thác chính mình vào trong tay Chúa Cha, chồng chất lên chính mình tình yêu tự hiến, những vết thương cơ thể, những tổn thương luân lý và tinh thần của toàn thể nhân loại. Bằng việc đón lấy cây thập giá, Chúa Giêsu đã chấp nhận sự trần truồng, đói khát, cô đơn, đau đớn và sự chết của con người ở mọi thời đại.
Đêm nay có Chúa Giêsu, và chúng ta cùng với ngài, hãy bằng tình yêu thương đặc biệt mà ôm lấy anh chị em đến từ Syria của chúng ta đã chạy trốn khỏi cuộc chiến tranh. Chúng ta hãy gặp gỡ và chào đón họ bằng tình bạn và tình huynh đệ.
Bước theo Chúa Giêsu trên suốt Đường Thánh Giá, chúng ta một lần nữa nhận ra tầm quan trọng của việc noi gương ngài qua mười bốn chặng của lòng thương xót. Những điều này giúp chúng ta khai mở lòng thương xót của Thiên Chúa, để nguyện xin ban xuống ân sủng, vì không có lòng thương xót thì chúng ta không thể làm được gì; không có lòng thương xót, tôi cũng như các bạn đều không thể làm được gì cả.
Đầu tiên chúng ta cùng suy ngẫm thương xác bảy mối: cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc, cho khách đỗ nhà, viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc, và chôn xác kẻ chết. Tự do mà chúng ta đã được lãnh nhận thì cũng hãy đi trao ban. Chúng ta được mời gọi đi phục vụ Chúa Giêsu chịu khổ nạn đang hiện hữu trong tất cả những người bị gạt bỏ ra bên lề, hãy chạm vào da thịt của ngài nơi những người có hoàn cảnh khó khăn, nơi những người đang đói khát, trần truồng, bị giam cầm, bệnh tật và thất nghiệp; nơi những người bị bách hại, tị nạn và di cư. Đó là những nơi mà chúng ta tìm thấy Thiên Chúa; là những nơi mà chúng ta được chạm vào Thiên Chúa.
Chúa Giêsu nói với chúng ta điều này khi ngài diễn giải về căn cứ để phán xét chúng ta: mỗi lần chúng ta làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất là chúng ta đã làm cho chính ngài vậy (x Mt 25: 31-46).
Tiếp theo thương xác bảy mối là thương linh hồn bảy mối: lấy lời lành khuyên người, mở dạy kẻ mê muội, an ủi kẻ âu lo, răn bảo kẻ có tội, tha kẻ dễ ta, nhịn kẻ mất lòng ta, cầu cho kẻ sống và kẻ chết. Khi đón lấy người bị ruồng bỏ, bị đau khổ về thể xác, mà đồng thời cũng đón nhận người tội lỗi hoặc có vấn nạn về tâm linh, thì nhân cách đáng tin cậy của của người Kitô hữu chúng ta được thêm củng cố.
Nhân loại ngày nay cần nhiều người, đặc biệt là giới trẻ - những người không muốn một lối sống "nửa vời", nhưng sẵn sàng tự giác dành cả cuộc đời mình để phục vụ anh chị em nghèo khổ nhất và dễ bị tổn thương nhất, theo gương Chúa Kitô, Đấng đã tự hiến hoàn toàn để cứu rỗi chúng ta. Đối diện với sự dữ, đau khổ và tội lỗi, một người môn đệ của Chúa Giêsu chỉ có thể phản ứng bằng cách tự hiến thân, thậm chí bằng cả cuộc đời mình theo gương Chúa Kitô; đó là thái độ của phục vụ. Những Kitô hữu nào tự nhận là sống để phục vụ, nhưng họ không phục vụ cho mục đích tốt. Thì lối sống như vậy, họ đã khước từ Chúa Giêsu Kitô.
Các bạn thân mến, tối nay, Thiên Chúa một lần nữa yêu cầu các bạn phải đi tiên phong trong việc phục vụ tha nhân. Ngài muốn các bạn đáp lại một cách cụ thể trước những khó khăn và đau khổ của nhân loại. Ngài muốn các bạn là dấu chỉ tình yêu thương xót của ngài trong thời đại của chúng ta! Để giúp các bạn thực hiện sứ mệnh này, ngài chỉ cho các bạn con đường của sự cam kết và tự hiến. Đó là Đường Thánh Giá.
Đường Thánh Giá là con đường của sự trung thành theo Chúa Giêsu đến cùng, dù trong thảm kịch của đời sống thường ngày. Đó là con đường không có thất bại, đày đọa hay cô đơn, vì nó phủ đầy tâm hồn chúng ta bằng sự viên mãn của Chúa Giêsu. Đường Thánh Giá là đường sự sống của Thiên Chúa, "phong cách" của Thiên Chúa, mà Chúa Giêsu đã mang đến để thay thế cho con đường chia rẽ, bất công và suy đồi của xã hội.
Đường Thánh Giá một mình đánh bại tội lỗi, sự dữ và sự chết, vì nó dẫn đến ánh sáng rạng ngời Phục sinh của Chúa Kitô, và mở ra những chân trời cho một đời sống mới mẻ và viên mãn hơn. Đó là con đường của niềm hy vọng, con đường của tương lai. Những ai bước theo con đường này với lòng quảng đại và đức tin sẽ đem hy vọng và tương lai đến cho nhân loại. Tôi muốn các bạn trở thành những người đi gieo niềm hy vọng!
Các bạn trẻ thân mến, Thứ Sáu Tuần Thánh, nhiều môn đệ đã bàng hoàng trở về nhà của họ. Những người khác thì chạy trốn khỏi xứ sở để quên đi thánh giá. Còn tôi xin hỏi các bạn: Tối nay, các bạn muốn quay trở về nhà của mình theo cách nào, các bạn sẽ đi đâu? Sau tối nay, các bạn trở về và một mình suy ngẫm về điều gì? Mỗi bạn có để trả lời cho thách đố này trước câu hỏi đang đặt ra trước mắt.
Xem lại video buổi Đàng Thánh Giá tại: https://www.youtube.com/watch?v=uP_...
Ta khát, các ngươi đã cho uống;
Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước;
Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc;
Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han. (Mt 25: 35-36).
Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng;
Những lời này của Chúa Giêsu đã trả lời cho câu hỏi luôn thường trực trong lý trí và tâm hồn của chúng ta rằng: "Thiên Chúa ở đâu?".
Thiên Chúa ở đâu, nếu sự dữ vẫn đang hiện diện trong thế giới của chúng ta, nếu vẫn còn có những người đang đói khát, vô gia cư, những người lưu vong và những người tị nạn? Thiên Chúa ở đâu, khi có người vô tội phải chết vì bạo lực, khủng bố và chiến tranh? Thiên Chúa ở đâu, khi hội chứng vô cảm đã tàn phá những ràng buộc của đời sống và tình cảm? Hoặc khi trẻ em bị bóc lột và xâm hại, để rồi họ phải gánh chịu những tổn thương nghiêm trọng? Thiên Chúa ở đâu, khi còn có những người đau khổ vì mất phương hướng hoặc gặp rắc rối trong tinh thần?
Đây là những câu hỏi mà nhân loại không có câu trả lời. Chúng ta chỉ có thể tìm đến Chúa Giêsu mà hỏi ngài. Và câu trả lời của Chúa Giêsu là: "Thiên Chúa ở trong họ". Chúa Giêsu ở trong họ; ngài tự hãm mình ngự trong họ và đồng hóa sâu sắc với từng người. Ngài kết hiệp chặt chẽ với họ để đồng hình đồng dạng với họ, đó gọi là "một thân thể".

Chính Chúa Giêsu đã chọn để đồng hóa với những anh chị em của chúng ta đang chịu đau đớn và thống khổ bằng cách cùng bước đi trên "con đường khổ nạn" dẫn tới Canvê. Bằng cái chết ở trên thập giá, ngài phó thác chính mình vào trong tay Chúa Cha, chồng chất lên chính mình tình yêu tự hiến, những vết thương cơ thể, những tổn thương luân lý và tinh thần của toàn thể nhân loại. Bằng việc đón lấy cây thập giá, Chúa Giêsu đã chấp nhận sự trần truồng, đói khát, cô đơn, đau đớn và sự chết của con người ở mọi thời đại.
Đêm nay có Chúa Giêsu, và chúng ta cùng với ngài, hãy bằng tình yêu thương đặc biệt mà ôm lấy anh chị em đến từ Syria của chúng ta đã chạy trốn khỏi cuộc chiến tranh. Chúng ta hãy gặp gỡ và chào đón họ bằng tình bạn và tình huynh đệ.
Bước theo Chúa Giêsu trên suốt Đường Thánh Giá, chúng ta một lần nữa nhận ra tầm quan trọng của việc noi gương ngài qua mười bốn chặng của lòng thương xót. Những điều này giúp chúng ta khai mở lòng thương xót của Thiên Chúa, để nguyện xin ban xuống ân sủng, vì không có lòng thương xót thì chúng ta không thể làm được gì; không có lòng thương xót, tôi cũng như các bạn đều không thể làm được gì cả.
Đầu tiên chúng ta cùng suy ngẫm thương xác bảy mối: cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc, cho khách đỗ nhà, viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc, và chôn xác kẻ chết. Tự do mà chúng ta đã được lãnh nhận thì cũng hãy đi trao ban. Chúng ta được mời gọi đi phục vụ Chúa Giêsu chịu khổ nạn đang hiện hữu trong tất cả những người bị gạt bỏ ra bên lề, hãy chạm vào da thịt của ngài nơi những người có hoàn cảnh khó khăn, nơi những người đang đói khát, trần truồng, bị giam cầm, bệnh tật và thất nghiệp; nơi những người bị bách hại, tị nạn và di cư. Đó là những nơi mà chúng ta tìm thấy Thiên Chúa; là những nơi mà chúng ta được chạm vào Thiên Chúa.
Chúa Giêsu nói với chúng ta điều này khi ngài diễn giải về căn cứ để phán xét chúng ta: mỗi lần chúng ta làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất là chúng ta đã làm cho chính ngài vậy (x Mt 25: 31-46).
Tiếp theo thương xác bảy mối là thương linh hồn bảy mối: lấy lời lành khuyên người, mở dạy kẻ mê muội, an ủi kẻ âu lo, răn bảo kẻ có tội, tha kẻ dễ ta, nhịn kẻ mất lòng ta, cầu cho kẻ sống và kẻ chết. Khi đón lấy người bị ruồng bỏ, bị đau khổ về thể xác, mà đồng thời cũng đón nhận người tội lỗi hoặc có vấn nạn về tâm linh, thì nhân cách đáng tin cậy của của người Kitô hữu chúng ta được thêm củng cố.
Nhân loại ngày nay cần nhiều người, đặc biệt là giới trẻ - những người không muốn một lối sống "nửa vời", nhưng sẵn sàng tự giác dành cả cuộc đời mình để phục vụ anh chị em nghèo khổ nhất và dễ bị tổn thương nhất, theo gương Chúa Kitô, Đấng đã tự hiến hoàn toàn để cứu rỗi chúng ta. Đối diện với sự dữ, đau khổ và tội lỗi, một người môn đệ của Chúa Giêsu chỉ có thể phản ứng bằng cách tự hiến thân, thậm chí bằng cả cuộc đời mình theo gương Chúa Kitô; đó là thái độ của phục vụ. Những Kitô hữu nào tự nhận là sống để phục vụ, nhưng họ không phục vụ cho mục đích tốt. Thì lối sống như vậy, họ đã khước từ Chúa Giêsu Kitô.
Các bạn thân mến, tối nay, Thiên Chúa một lần nữa yêu cầu các bạn phải đi tiên phong trong việc phục vụ tha nhân. Ngài muốn các bạn đáp lại một cách cụ thể trước những khó khăn và đau khổ của nhân loại. Ngài muốn các bạn là dấu chỉ tình yêu thương xót của ngài trong thời đại của chúng ta! Để giúp các bạn thực hiện sứ mệnh này, ngài chỉ cho các bạn con đường của sự cam kết và tự hiến. Đó là Đường Thánh Giá.
Đường Thánh Giá là con đường của sự trung thành theo Chúa Giêsu đến cùng, dù trong thảm kịch của đời sống thường ngày. Đó là con đường không có thất bại, đày đọa hay cô đơn, vì nó phủ đầy tâm hồn chúng ta bằng sự viên mãn của Chúa Giêsu. Đường Thánh Giá là đường sự sống của Thiên Chúa, "phong cách" của Thiên Chúa, mà Chúa Giêsu đã mang đến để thay thế cho con đường chia rẽ, bất công và suy đồi của xã hội.
Đường Thánh Giá một mình đánh bại tội lỗi, sự dữ và sự chết, vì nó dẫn đến ánh sáng rạng ngời Phục sinh của Chúa Kitô, và mở ra những chân trời cho một đời sống mới mẻ và viên mãn hơn. Đó là con đường của niềm hy vọng, con đường của tương lai. Những ai bước theo con đường này với lòng quảng đại và đức tin sẽ đem hy vọng và tương lai đến cho nhân loại. Tôi muốn các bạn trở thành những người đi gieo niềm hy vọng!
Các bạn trẻ thân mến, Thứ Sáu Tuần Thánh, nhiều môn đệ đã bàng hoàng trở về nhà của họ. Những người khác thì chạy trốn khỏi xứ sở để quên đi thánh giá. Còn tôi xin hỏi các bạn: Tối nay, các bạn muốn quay trở về nhà của mình theo cách nào, các bạn sẽ đi đâu? Sau tối nay, các bạn trở về và một mình suy ngẫm về điều gì? Mỗi bạn có để trả lời cho thách đố này trước câu hỏi đang đặt ra trước mắt.
Xem lại video buổi Đàng Thánh Giá tại: https://www.youtube.com/watch?v=uP_...
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)

