Chủ Nhật, 29 tháng 5, 2016

Bài hát : Nữ Vương Địa Phận Vinh - Lệ Hằng

1. Hôm nay đoàn con vào nơi đây từ non xanh mây ngàn chập chùng. Tới nơi xa biển khơi gió lộng từ thành thị tới tận đồng quê. Quê lam hồng dẫn con ơn thánh hợp ca khen chúc tụng mẹ lành. Maria nữ vương thái bình. Mẹ đẹp như ánh dương bình minh. 

Đk: chúng con chung muôn lời ca hát Đức Nữ Vương trên trời dưới đất. Kính tiến Mẹ ngàn hoa thơm ngát. Chúng con chung tấm lòng tôn kính. Đức Nữ Vương của Địa Phận Vinh. Kính tiến Mẹ ngàn hoa tươi xinh. 

2. Sông lam rộng biết là bao nhiêu còn thua xa tấm lòng Mẹ nhiều. Sóng ái ân nhẹ trôi sớm chiều. Dìu thuyền con tới quê tình yêu. Núi Hồng Lĩnh cao chót vót thế vượt sao hơn khối tình của Mẹ Lúc nắng mưa đoàn con tựa kề. Đời sầu thương có Mẹ chở che. 

3. Trên con đường tìm về thiên cung nhìn bơ vơ chân trời mịt mùng. Có thấu chăng đoàn con khốn cùng. Nhìn đây đó sói lang tàn hung. Bao tông đồ chiến sĩ đức tin . Mẹ phải đến canh phòng giữ gìn. Cứu thoát con lầm than quý quyền. Về bên Mẹ con sẽ ủi an. 

4. Trên quãng đường đã tròn trăm năm đoàn con thơ có mẹ đỡ đần. Biết bao phen sầu đau tủi phiền. Đoàn con đã vững tâm vượt lên. Hôm nay Mẹ ơi đoàn con đây. Ngàn chông gai trên quãng đường dài. Hãy dơ tay đỡ nâng tháng ngày. Để đời nở hoa thắm ngày mai.

Thứ Bảy, 28 tháng 5, 2016

LỄ MÌNH VÀ MÁU THÁNH CHÚA KITÔ

 Lc 9, 11b-17
Khi ấy, Đức Giêsu tiếp đón dân chúng, nói với họ về Nước Thiên Chúa và chữa lành những ai cần được chữa. Ngày đã bắt đầu tàn. Nhóm Mười Hai đến bên Ðức Giêsu thưa Người rằng: “Xin Thầy cho đám đông về, để họ vào các làng mạc nông trại quanh đấy, tìm chỗ trọ và kiếm thức ăn, vì nơi chúng ta đang ở đây là nơi hoang vắng.” Ðức Giêsu bảo: “Chính anh em hãy cho họ ăn.” Các ông đáp: “Chúng con chỉ có vỏn vẹn năm cái bánh và hai con cá, trừ phi chính chúng con phải đi mua thức ăn cho cả đám dân này.” Quả thật có tới chừng năm ngàn đàn ông. Ðức Giêsu nói với các môn đệ: “Anh em hãy cho họ ngả lưng thành từng nhóm khoảng năm mươi người một.” Các môn đệ làm y như vậy, và cho mọi người ngả lưng xuống. Bấy giờ Ðức Giêsu cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho môn đệ để các ông dọn ra cho đám đông. Mọi người đều ăn, và ai nấy được no nê. Những miếng vụn còn thừa, người ta thu lại được mười hai thúng.
Đó là Lời Chúa!

Thứ Sáu, 27 tháng 5, 2016

Hãy luôn cầu nguyện, đừng đánh mất con tim

Chúng ta hãy luôn cầu nguyện không mệt mỏi, vì Thiên Chúa luôn đáp lời chúng ta. Đức Thánh Cha Phanxicô nhắc nhở các tín hữu thực tại này trong buổi triều yết chung thứ Tư hàng tuần sáng ngày 25/5/2016 tại Quảng trường Thánh Phêrô, khi ngài tiếp tục bài giáo lý của mình về Năm Thánh Lòng Thương Xót, với dụ ngôn của Chúa Giêsu về quan tòa bất chính và bà góa (Lc 18, 1-8).
20160526 DTC noi ve cau nguyen
Đức Thánh Cha nhắc lại rằng Chúa Giêsu nói với chúng ta ngay cả một vị quan toàn vô đạo đức cuối cùng cũng sẽ thực thi công lý cho một người phụ nữ nghèo vì sự kiên trì của bà. Chúa kể lại điều này, Ngài khuyến khích chúng ta kiên trì trong cầu nguyện với Chúa Cha trên trời, Đấng công bằng và yêu thương vô hạn.
Đức Thánh Cha giải thích: "Chúa cũng đảm bảo với chúng ta rằng Thiên Chúa không chỉ lắng nghe lời cầu nguyện của chúng ta, mà còn không trì hoãn đáp lời. Khi đưa ra cho chúng ta dụ ngôn này, Chúa Giêsu nói với chúng ta "hãy luôn cầu nguyện và đừng đánh mất con tim".
"Mọi người trải qua những khoảnh khắc của sự mệt mỏi và chán chường, nhất là khi những lời cầu nguyện của chúng ta dường như không hiệu quả. Nhưng Chúa Giêsu bảo đảm với chúng ta: không giống như vị quan tòa bất công, Thiên Chúa đáp lời con cái Ngài kịp thời, mặc dù điều này không có nghĩa là nhất thiết phải làm điều đó vào thời gian và cách thức mà chúng ta mong muốn".
Đức Thánh Cha nói thêm: "Cầu nguyện không phải là cây đũa thần! Nó giúp giữ vững niềm tin vào Thiên Chúa, tin tưởng vào Ngài, ngay cả khi chúng ta không hiểu được thánh ý của Ngài"
Các sách Tin Mừng nói với chúng ta rằng Chúa Giêsu đã cầu nguyện liên lỉ. Sự cầu nguyện mãnh liệt của Ngài trong vườn Cây Dầu là một mẫu gương cho chính chúng ta: nó dạy chúng ta phải trình bày thỉnh cầu của mình bằng sự tin tưởng hoàn toàn vào lòng khoan dung của Cha.
Ưu tư về nỗi thống khổ sắp tới của mình, Chúa Giêsu đã cầu nguyện xin Chúa Cha giải thoát khỏi Cuộc khổ nạn của Ngài, nhưng cuối cùng lời cầu nguyện của Ngài được vượt qua bởi niềm tin vào Chúa Cha. Mặc dù mong muốn của Chúa Giêsu không phải là ý muốn của Chúa Cha, nhưng Ngài tin tưởng. Đức Thánh Cha giải thích: "Lời cầu nguyện của Ngài thấm nhuần đức tin vào Chúa Cha, và tin tưởng mà không gò bó trong ý muốn của Ngài khi Chúa Giêsu cho biết: Nhưng đừng theo ý con mà theo ý Cha.  Đối tượng của lời cầu nguyện có tầm quan trọng thứ yếu; trên hết là mối tương quan với Chúa Cha. Đây là những gì làm cho lời cầu nguyện chuyển biến những mong muốn và định hình nó theo thánh ý của Thiên Chúa, bất kể nó là gì, vì người cầu nguyện trước hết mong muốn hiệp nhất với Chúa Cha, Đấng là tình yêu thương xót".
Đức Thánh Cha Phanxicô nhắc nhắc những người hiện diện rằng dụ ngôn kết thúc bằng một câu hỏi: Khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng? Nhấn mạnh sự kiên trì trong cầu nguyện gìn giữ đức tin của chúng ta sống động và vững vàng, Đức Thánh Cha lưu ý cách thức, trong lời cầu nguyện, chúng ta cảm nghiệm lòng thương xót của Thiên Chúa "như một người Cha đầy tình thương và lòng thương xót, luôn sẵn sàng đến trợ giúp con cái của Ngài".
Đức Thánh Cha Phanxicô kết luận bằng cách thúc giục những người hiện diện cầu xin Chúa không ngừng, kiên trì đức tin, như bà góa trong dụ ngôn.
Tạ Ân Phúc

Đức Hồng y Sarah: "Chúng ta phải bảo vệ gia đình khỏi sự tấn công của ma quỷ"

Đức Hồng y Robert Sarah nói rằng ly dị, chung sống như vợ chồng và kết hợp đồng tính gây tổn hại đến trẻ em và làm cho khó khăn hơn trong việc khám phá tình yêu Thiên Chúa
Đức Hồng y Sarah cho hay ma quỷ "có ý định hủy hoại gia đình", và các Kitô hữu phải đấu tranh với ý thức hệ phủ nhận tầm quan trọng của việc con cái có một người mẹ và một người cha.
Phát biểu tại chương trình National Catholic Prayer Breakfast ở Washington DC hôm 18/5/2016, Đức Hồng y Robert Sarah, Tổng trưởng Thánh Bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích Tòa Thánh, nói rằng thế giới "ngày càng xa rời Thiên Chúa qua chủ nghĩa thực dân ý thức hệ".
Trong bài phát biểu trên phạm vi rộng, bao gồm bách hại tôn giáo, bỏ rơi người già, "việc nhắm mắt và đóng kín tâm hồn của chúng ta đối với người nghèo và người dễ bị tổn thương", các vấn đề chính trị Hoa Kỳ, Đức Hồng y người Guinea đã tập trung vào các mối đe dọa đối với gia đình.
Đức Hồng y Sarah dẫn lời của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô nói rằng gia đình là nơi mà Tin Mừng được rao giảng đầu tiên. Ngài cho hay: "Tình yêu quảng đại và có trách nhiệm của vợ chồng, đã được thể hiện qua sự tự hiến của cha mẹ, những người đón nhận và nuôi dưỡng con cái như là quà tặng của Thiên Chúa, làm cho tình yêu có thể hữu hình trong thế hệ chúng ta".
Nhưng Đức Hồng y nói rằng ma quỷ muốn hủy hoại gia đình để làm cho người ta khó khăn hơn khi nghe "Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô: tình yêu tự hiến và sinh hoa trái".
Ngài nói ly hôn, chung sống như vợ chồng và kết hợp đồng tính gây tổn hại đến trẻ em qua việc gây cho chúng sự nghi ngờ sâu xa về tình yêu.
"Chúng là một sự tai tiếng - một trở ngại - ngăn chặn người dễ bị tổn thương nhất tin tưởng vào tình yêu như thế, và là một gánh nặng trí mạng có thể ngăn cản họ mở lòng mình ra cho quyền năng chữa lành của Tin Mừng".
Đức Hồng y nói rằng việc hợp pháp hóa những tình huống này - mà ngài nói, như Hoa Kỳ đã thực hiện - không thể giải quyết các vấn đề xã hội. Thật cần thiết để "chiến đấu để bảo vệ gia đình".
Ngài nói rằng Đức Thánh Cha Phanxicô "bênh vực một cách công khai và mạnh mẽ giáo huấn của Giáo Hội về ngừa thai, phá thai, đồng tính, công nghệ sinh sản, giáo dục con cái và nhiều điều khác nữa".
Đức Hồng y cho hay những hạn chế đối với tự do tôn giáo tương đương với đàn áp bạo lực. "Bạo lực chống Kitô hữu không chỉ về thể lý mà còn về chính trị, tư tưởng và văn hóa. Hình thức bách hại tôn giáo này cũng không kém phần gây hại, nhưng ẩn giấu hơn". Đức Hồng y khuyên nhủ: "Hãy tiên báo.Hãy trung tín. Cầu nguyện".
Một diễn giả khác của Prayer Breakfast hằng năm lần thức 12, Chủ tịch Hạ viện Paul Ryan, cũng chỉ trích cuộc tấn công vào tự do tôn giáo. Ông nhắc đến vụ án đang diễn ra ở tòa giữa Dòng Chị em Tiểu muội của Người nghèo và chính phủ Hoa Kỳ.
Ông Ryan cho biết ông nghĩ rằng tự do tôn giáo sẽ phải thực hiện một "sự trở lại", vì đã có một nhận thức ngày càng gia tăng về sự cần thiết của Thiên Chúa. Ông cho biết cuộc đấu tranh cho tự do tôn giáo phải đi cùng với việc giúp đỡ những người nghèo.
Ông Ryan nói: "Khi bạn gặp những người đã đánh bại được nghiện ngập, hầu hết trong số họ nói rằng ‘Không phải là tôi, chính nhờ Thiên Chúa’. Họ biết nguồn gốc thực sự thành công của mình. Trong cuộc đấu tranh của mình, họ nhận biết Ngài và tìm thấy hạnh phúc.
"Mỗi công việc tốt lành là công việc của Thiên Chúa. Chính ân sủng của Ngài hoạt động bên trong chúng ta. Và khi bạn nhận ra điều đó, bạn không chỉ mất đi niềm tự hào của mình, mà bạn sẽ mất đi bất kỳ cảm giác tuyệt vọng nào. Đó là ý nghĩa của hạnh phúc đích thực, ít nhất là trong thế giới này. Đó không phải là một sự run sợ rẻ tiền hoặc tâm trạng phấn khởi tạm thời: Đó là sự bình an nội tâm sâu xa, bền chặt".
National Catholic Prayer Breakfast (NCPB) được thiết lập vào năm 2004 để đáp lại lời mời gọi Tân Phúc Âm hóa của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Hàng năm, hơn 1.000 người quy tụ tại Washington, DC để cầu nguyện cho đất nước Hoa Kỳ. Chương trình bao gồm triển lãm, ăn sáng và hội nghị.

Tạ Ân Phúc

http://chuongtrinhchuyende.com/ban-muc-vu-gia-dinh/item/3651-duc-hong-y-sarah-chung-ta-phai-bao-ve-gia-dinh-khoi-su-tan-cong-cua-ma-quy

Thứ Năm, 26 tháng 5, 2016

CAN ĐẢM – NHÚT NHÁT


Cuộc sống hiện đại giúp chúng ta thật nhiều tiện nghi, nhưng bên cạnh đó biết bao bạn trẻ vẫn đang loay hoay để tìm lối thoát cho đời mình, họ cảm thấy cuộc sống quá nhiều giả dối, lừa lọc và nhàm chán. Trong lớp trẻ ngày nay vẫn truyền tai nhau câu nói: “ Xã hội ngày nay cái gì cũng giả chỉ có giả dối là có thật”, câu nói này tuy họ chỉ nói vui nhưng chúng ta cung nhận ra một hiện thực cuộc sống, rằng ta đang sống trong thời buổi đầy thách thức. Vậy nên Les Brown đã nói rằng: “Bạn không thể yếu đuối trên con đường theo đuổi giấc mơ, hãy dám vượt qua rào chắn để tìm con đường của riêng mình”. Phải chăng sự can đảm chính là phương cách để chúng ta vượt qua thử thách, hay cứ mãi nhút nhát để số phận đánh chìm chúng ta. Chúng ta hãy cùng tìm ra câu trả lời cho chính mình qua vấn đề trên.
Chúa Giêsu đã từng phán: “Giữa thế gian các con sẽ phải đau khổ, nhưng hãy can đảm lên, Thầy đã thắng thế gian”(Ga 16,33). Vậy can đảm là gì? Nhắc đến can đảm, ai trong chúng ta cũng ít nhiều biết được can đảm là có sức mạnh tinh thần để vượt qua đau khổ, vượt qua thử thách trong cuộc sống. Và trái ngược với can đảm đó là nhút nhát là trạng thái trốn tránh, e sợ không dám hành động. Tóm lại, can đảm là dám làm những gì lương tâm mình mách bảo và nhút nhát là đi ngược lại với lòng can đảm.
Nếu nói về lợi ích của việc can đảm, chúng ta có thể liệt kê cả trang giấy. Lòng can đảm trước hết giúp chúng ta dám sống thật với con người, sống thật với lương tâm và không xuôi theo những điều xấu. Nó giúp mỗi chúng ta thêm mạnh mẽ hơn, được nhiều người tin tưởng và yêu mến. Nhờ có lòng can đảm ta thêm hạnh phúc hơn trong cuộc sống này. Chính Chúa Giêsu đã dạy chúng ta bài học can đảm, khi chính người luôn sống theo sự thật, luôn làm chứng cho sự thật và chết vì yêu thương trong sự thật. Hay như Mẹ Têrêsa Cancutta, Mẹ cũng đã can đảm ra đi để phục vụ những người nghèo khổ dù cho có bao khó khăn đang đợi mẹ. Xã hội ngày nay cũng có rất nhiều mẫu gương về lòng can đảm, mới gần đây ngay tại Quận 1 đã có biết bao người can đảm phản đối việc cá chết tại các vùng biển của nước ta.
Can đảm sống, bản thân nó đã là một hành động đẹp và đáng được tôn trọng, tuy nhiên giữa một thời đại ngày nay, chúng ta cũng cần phải can đảm một cách khôn ngoan, can đảm đi kèm với lý trí. Tôi nói vậy ắt hẳn các bạn cũng hiểu ý tôi.
Qua vấn đề này tôi cũng nhận ra mình phải tập luyện cho mình đức tính can đảm, can đảm không chỉ trong suy nghĩ mà cả trong hành động, nhất là trong việc học tập và sống trong cộng đoàn nơi mình đang sống. Chúng ta nhận thấy lịch sử đã vẽ lại cho ta rất nhiều mẫu gương đẹp về sự can đảm, vậy chúng ta cũng hãy khắc tên mình lên cuộc sống này, bằng chính sự can đảm từng ngày của chúng ta.
Tuy nhiên để có thể sống được điều mà chúng ta đang bàn luận, nó đòi hỏi không phải ngày một ngày hai, mà là cả cuộc đời. Ta phải không ngừng tập luyện, học tập và phải mạnh mẽ đón nhận. Chỉ cách đó ta mới thực sự sống chọn vẹn đức tính can đảm trong cuộc sống chúng ta.

Cuộc sống vẫn còn đó rất nhiều cơ hội và cũng không ít thách thức đợi chờ chúng ta, và để có thế tỉnh táo và mạnh mẽ để đạt đến thành công, chúng ta cần phải có nhiều đức tính và khả năng. Trong đó, sự can đảm cũng là một hành trang không thể thiếu đối với bất cứ ai, nó giúp ta vững vàng và mạnh mẽ hơn trong những quyết định của đời mình. Điều quan trọng là sự lựa chọn cách hành động của chúng ta, mạnh dạn làm theo tiếng lương tâm mách bảo hay cứ ngồi lỳ trên thất bại đấy là tùy vào lựa chọn của từng người.

PHANXICÔ CÙNG VỚI CUỘC ĐỜI, Ý TƯỞNG VÀ NHỮNG LỜI NÓI CỦA MỘT VỊ GIÁO HOÀNG ĐANG LÀM THAY ĐỔI GIÁO HỘI


“Tôi xin anh chị em cầu nguyện cho tôi”, đó là lời nói của Đức Thánh Cha Phanxicô nói sau những lần gặp gỡ. Trong các cuốn sách nói về cuộc đời và sự nghiệp của một ai đó, thì cuốn sách này là bậc nhất, vì nó cho tôi cái nhìn khá đầy đủ về Đức Thánh Cha Phanxicô và Ngài được gọi là Giáo hoàng của người nghèo.

Với một sự kế nhiệm từ Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, hay về quyết định từ nhiệm của Ngài thì cuốn sách có rất nhiều dẫn chứng. Bên cạnh đó, cuốn sách còn đề cập đến là cách bầu một vị Giáo hoàng như thế nào? Cách mà các Hồng y bầu như thế nào? Tại sao lại có khói trắng? Hay tại sao khi chính Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI là Giáo hoàng, thì Đức Thánh Cha Phanxicô lại có số phiếu bầu lúc đó gần bằng nhau. Có lẽ, Đức Thánh Cha Phanxicô nổi tiếng lâu rồi chứ không phải giờ. Và qua đây, tôi còn thấy thời Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI khó khăn như thế nào về các vụ án liên quan đến linh mục, các tài liệu mật hay các vấn đề giải quyết nội bộ lẫn quan hệ ngoại giao.
Với Đức Thánh Cha Phanxicô khi Ngài nhận danh hiệu là Phanxicô, cũng cho thấy là sự thay đổi hay một cuộc cách mạng cho một Giáo hội. Hình ảnh chiếc áo Ngài mặc và Thánh Giá khi nhận chức Giáo hoàng thì Ngài muốn nói lên Giáo hội nghèo vì người nghèo. Và hình ảnh cảm động nhất đó là Ngài cầu nguyện với Đức Mẹ vào sáng hôm sau và điện thoại cho vị tiền nhiệm của mình. Nhưng đó chưa là tất cả khi tôi nhìn thấy hình ảnh chiếc xe Ngài đi, tự trả tiền phòng trọ, tự thu dọn phòng mình, có lẽ Ngài đã cho tôi thấy làm chứng bằng đời sống hơn lời nói là thế đó.
Với tôi thì câu nói hay nhất của Ngài là “ lòng thương xót, lòng thương xót…”, có lẽ chính vì vậy mà năm này Ngài chọn làm “Năm Thánh Lòng Thương Xót”.
Cuốn sách còn cho thấy cuộc đời của Đức Thánh Cha Phanxicô, từ việc di dân thời ông nội cho đến thời của Đức Thánh Cha Phanxicô là một hành trình khó khăn, và trên con đường của Đức Thánh Cha có những ai đồng hành. Đức Thánh Cha làm việc lúc 13 tuổi bạn có tin không? Gia đình Ngài lúc đó không khá giả nên việc Ngài đi làm sớm là bình thường. Có một chi tiết rất thú vị đó là việc Ngài chuẩn bị cầu hôn người con gái Ngài thích, cho đến việc Ngài nhận ra ơn gọi của mình và việc mẹ ngài không bằng lòng với quyết định của Ngài khi làm linh mục và các cáo buộc khi Ngài làm Giám Tỉnh Dòng Tên tại Agrentina.
Đức Thánh Cha đã gần gũi với mọi người khi Ngài đang là linh mục, Ngài đã gặp gỡ với mọi người có hoàn cảnh địa vị khác nhau không phân biệt già hay trẻ, Ngài vẫn mang bình an đến cho những ai gặp người. Và câu Ngài để cho tôi ấn tượng là “chúng con đừng bao giờ mệt mỏi về lòng nhân từ”,  từ đó tôi còn biết phương châm của Đức Thánh Cha Phanxicô là bước đi, xây dựng, tuyên xưng và những bước này luôn luôn khó vì có những trào lưu lôi kéo tôi lại. Xin Chúa cho con can đảm bước đi trước mặt Chúa, mang Thập Giá của Chúa, xây dựng Giáo hội trên máu Chúa và tuyên xưng chỉ một sự vinh quang đó là Đức Ki-tô chịu đóng đinh.

Qua cuốn sách, bên cạnh hình ảnh Đức Thánh Cha Phanxicô đã cho tôi biết thay đổi mình phải phù hợp với hoàn cảnh và tính cách đơn giản, còn cho tôi thêm động lực và dấn thân cho Chúa hơn trong mọi công việc của mình.

Thứ Sáu, 20 tháng 5, 2016

HẠT BỤI TÌNH THƯƠNG

HẠT BỤI TÌNH THƯƠNG
Hạt bụi, hạt bụi ơi
Ở trong vô tận gầm trời
Chẳng lẽ không nơi trú ngụ
Lại rơi vào mắt tôi?

Ra đi, ra đi hạt bụi
Lấy tay mình dụi mắt mình                      
Con mắt đỏ lên như máu                                                      
Tôi đang cố nhổ chiếc đinh

Mắt bỗng tuôn trào ướt thế
Chao ôi bầu lệ vỡ òa
Hạt bụi trôi đi rất nhẹ
Theo dòng nước mắt mà ra

Qua mấy chặng đời bão táp
Tôi cằn khô quá đi thôi
Chẳng lẽ thiếu tình Chúa
Phải trở về với Người.

Chợt phải cám ơn hạt bụi
Nếu không rơi vào mắt tôi
Đâu biết mình còn có Chúa
Để đồng hành cùng với tôi.

Tôi tìm trong dòng lệ sót
Để coi hạt bụi đâu rồi
Chỉ còn người tôi ở lại
Trong dòng sướng khổ buồn vui.

Có phải mình là hạt bụi
Từng rơi vào mắt cuộc đời?
Hạt bụi có phải là của Chúa
Để nhắc nhở mình ăn năn

Quay trở về cung Chúa
Ý nghĩa tên tôi
       Trong gia đình tôi là anh cả, ngoài bắc gọi là là con đầu, nên trong những thời gian tôi đã trải qua và tôi đã từng suy nghĩ tại sao bố, mẹ lại đặt tôi tên là An tại sao lại như thế ? nhưng khi tôi đã từng học qua môn gọi là trị liệu lâm sàn và một ít hiểu biết về xã hội, nên tôi thiết nghĩ vấn đề đặt tên cho tôi đã có lời giải.
       Tôi là An,các bạn hay gọi là An cuxê (cuxê là biệt danh của bố) nhưng các bạn nghĩ sao về tên của tôi, có nhiều câu trả lời nhưng cái nào cũng có lý, khi tôi hỏi bố,mẹ tôi thì bố mẹ chỉ cười trừ thôi và nói đăt cho hay chứ lúc đó nghĩ gì đâu ?   

       Khi đặt tên cho người nào đó là một vấn đề rất quan trọng vì nó có thể nói lên uy lực của mình,khẳng định mình chứ không phải đùa nhất là đối với người Á Đông, do đó cái tên nói lên được một phần nào đó trong cuộc sống.
       Với tên của tôi là An thì cũng có những cái gọi là hạnh phúc nhưng cũng có một tý gì đó gọi là hơi buồn, hơi buồn chỉ là lúc gọi là thời cắp sách tới trường thôi,  nhưng nói thật cái tên nó ảnh hưởng tới cuộc đời học sinh vì đôi khi giáo viên gọi từ trên xuống hoặc ngược lại hay là thấy tên ai đẹp là gọi cái này tôi là người lo nhất vì hay bị dính…, nhưng cái hay là khi học cấp một thì người giáo viên hay gọi người đầu sổ thôi vì qua đây như lời nhắc nhở rằng ai cũng tới lượt không ai tránh khỏi, nếu như giờ không nói đến cảnh là học theo kiểu giồi giét học sinh , còn thời học cấp 2 và 3 thì hầu như là không, vì trước hết nếu giáo viên gọi thì xem sổ đầu bài rồi  dò theo sổ đầu bài nếu có mặt ai trong đó thì coi như là bị dính chưởng  hoặc  là gọi theo cảm tính hay  có ai mà không ghét khi giáo viên mở sổ điểm ra thì tên ai sẽ gọi đầu tiên phần đa thì nghĩ sẽ là thằng đầu sổ, nhưng với ý nghĩ này thì thời học sinh của tôi chưa bao giờ bị dính, thật là tuyệt vời, với mỗi lần như vậy tôi rât thích vì đã lười học … cái đau khổ  tên của tôi là đây đó là những lúc đi thi, vì lúc nào mình cũng ngồi đầu bàn trên cùng và luôn luôn là số một nên không thể thoát được vào đâu và chỗ ấy được gọi là chỗ gần mặt trời nhất nên không làm ăn gì được ! (không chê cách giáo dục đâu nhé)
       Thật vậy, khi tôi đi học môn gọi là có tên là “trị liệu lâm sàn theo quan điểm hệ thống”. thì khi nói đến tên gọi của người nào đó trong một gia đình thì ta phải theo bối cảnh của gia đình đó chứ không phải theo cá nhân. cái mà tôi học cho biêt để có thể giúp ích gì cho đời không?, thì lại là cái lời giải đáp được tên của tôi, vì sao tôi lai được đặt cái tên như vậy. Thông  qua môn này, việc đặt tên cho tôi đặt tên cho tôi có lẽ cũng đã bị ảnh hưởng của họ nội của tôi, nhất là ông nội tôi (ông mất khi tôi còn nhỏ) !và  tại sao lại như vậy ? vì ông nội tôi tên là Phú theo cái mà tôi hiểu là “giàu có,phú quý’’ gọi là trời phú hay là của trời cho nhưng xét về bối cảnh thì lúc đó khó khăn, đói kém, nên việc ông đặt tên cho bố tôi là Bình lúc đó cũng có lý .Ông là tên Phú bố là tên Bình gọi là Bình Phú, tên “Bình” Ở đây nói lên sự trời phú cho thiên hạ, thái bình an cư lạc nghiệp, và trong câu nói này đã xuất hiện tên tôi đó là từ  “An” .
      Tên “An”, xét dưới góc độ nào đó thì tên “An” thì luôn đem nềm vui đến cho người khác nhưng phải hiểu theo nghĩa bóng của nó là “An” là vui tươi mang niền tin đến cho người khác, yên bình nhưng có cái hay là khi kết hợp với tên của bố mẹ tôi thì phải nói là tuyêt cú mèo không chê chỗ nào được, vì khi ghép tên lại không ai ngờ rằng, đó là lời yêu chuộng hòa bình (với tên của bố) hay là một lời chúc bình an (với tên của mẹ). Trước tiên, tôi muốn nói là từ “an bình”  từ bình theo nghĩa hán việt thì là thái bình từ này kết hợp với từ an thì là thái bình, yên ổn, không lo các vấn đề khác mà xã hội tạm gọi là tệ nạn. Khi kết hợp lại thì đây là một ý rất hay vì khi họ gọi tên mình thì nó như luôn mang nụ cười đến cho người khác. Và tôi rất vui khi đi lễ vì khi Cha kết thúc buổi lễ thì Cha chúc lành và nói chúc anh chị em ra về “bình an”  ôi một cảm xuc không thể nào tả nổi, vì đọc ngược hay xuôi thì tên của tôi và bố cũng có một ý nghĩa duy nhất….tiếp đến là tên của Mẹ tôi. Mẹ tôi tên là “Lành” ồ tôi chợt nghĩ sao mà bố tôi khéo chọn thế không biết, để giờ đây suy nghĩ lại mà cười có người nói cười vì cái sự đời có nhiều cái hay, một sự trùng lặp không hề nhẹ chút nào ở đây, nhiều người gọi tôi là “An Lành” đa số là phụ nữ gọi như thế (đây không liên quan về vấn đề giới và bất bình đẳng đâu nhé) đây là một tên ghép không phải người nào cũng có và tôi luôn tự hào về điều này vì như là để chúc lành người khác và gia đình tôi luôn chúc lành cho nhau như câu “An Lành nhé! Hay An Bình nhé!” thật là dễ chịu  khi mình là được đặt tên là “An”

      Con cảm ơn Chúa , cám ơn vì đã cho con ra đời với cái tên như vậy và con cám ơn bố mẹ khi đã đặt cho con với cái tên ý nghĩa này !!!.

MƯỜI ĐIỀU TÂM NIỆM SỐNG HÀNG NGÀY CỦA CHÂN PHƯỚC - GIÁO HOÀNG GIOAN XXIII

MƯỜI ĐIỀU TÂM NIỆM SỐNG HÀNG NGÀY
CỦA CHÂN PHƯỚC - GIÁO HOÀNG GIOAN XXIII


LTS: Đức Thánh Cha Gioan XXIII, nay đã là chân phước, là người đã triệu tập Công Đồng Vatican II, mở cánh cửa Giáo Hội ra với thế giới bên ngoài, và đem một sinh khí mới vào sự sống Giáo Hội. Ngài thường suy tư trăn trở về Giáo Hội vì trách nhiệm là Giám Mục Roma và là Giáo Hoàng, nhưng lại rất thực tế sống tinh thần phó thác và chỉ lo hoàn tất bổn phận hàng ngày của mình khi thực thi Mười Điều Tâm Niệm (hay Thập giới) trong cuộc sống. Chuyện kể về Ngài như sau: Tuy lo lắng rất nhiều cho tương lai Giáo Hội vì quá nhiều vấn đề khó khăn luôn đè nặng trên đôi vai, Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII vẫn thường cầu nguyện trước giờ đi ngủ: “Lạy Chúa, Giáo Hội là của Chúa, con chỉ là tôi tớ, mạnh yếu thành đạt là trách nhiệm của Chúa. Con đã làm bổn phận con, giờ này đến giờ con đi ngủ, xin Chúa ban phúc lành cho con.” Nói thế rồi, Ngài đi vào giấc ngủ ngon.

Trong tâm tình hướng về vị mục tử của Giáo Hội được nhiều ngưòi kính mến, xin chia sẻ với độc giả Maranatha Mười Điều Tâm Niệm của Ngài sau đây:

1.          Ngày hôm nay, tôi sẽ sống tích cực trọn vẹn, chứ không tìm cách giải quyết mọi vấn đề của đời mình.

2.          Ngày hôm nay, tôi sẽ chú ý đặc biệt đến dáng vẻ của mình: ăn mặc đơn sơ, không lớn tiếng, lịch sự trong cách ứng xử; tôi sẽ không phê phán ai; tôi cũng sẽ không đòi ai phải ứng xử hoặc kỷ luật ai trừ ra chính con người của mình.

3.          Ngày hôm nay, tôi vui sướng tin chắc rằng tôi được tạo dựng để sống hạnh phúc, không chỉ cho đời sau mà ngay cả từ đời này.

4.          Ngày hôm nay, tôi sẽ sống theo hoàn cảnh của mình, mà không đòi hỏi hoàn cảnh phải phù hợp với những ước muốn của tôi.

5.          Ngày hôm nay, tôi sẽ dành 10 phút để đọc điều gì thật hữu ích, và luôn nhớ rằng lương thực cần cho cuộc sống như thế nào thì đọc điều hữu ích cũng cần thiết để nuôi dưỡng cho linh hồn mình như vậy.

6.          Ngày hôm nay, tôi sẽ làm một điều tốt mà không kể cho ai nghe.

7.          Ngày hôm nay, tôi sẽ làm ít nhất một điều tôi không thích: và nếu tôi bị tổn thương, thì tôi cũng không cho ai biết điều này.

8.          Ngày hôm nay, tôi sẽ hoạch định một chương trình cho riêng tôi: tôi có thể không theo sát được từng chữ, nhưng tôi sẽ có một chương trình như thế. Và tôi sẽ đề phòng hai điều tai hại: cẩu thả và lừng khừng, không dám quyết tâm.

9.          Ngày hôm nay, tôi tin chắc rằng, dù thế nào đi nữa, thì Thiên Chúa vẫn yêu thưong tôi như chỉ có mình tôi trên thế gian này.

10.      Ngày hôm nay, tôi sẽ không sợ hãi gì. Tôi sẽ không ngần ngại thưởng ngoạn vẻ đẹp thiên nhiên và tin tưởng vào lòng nhân ái của con người và cuộc đời.

Thực thế, trong vòng 12 tiếng đồng hồ, tôi chắc chắn có thể làm tốt điều mà tôi nghĩ rằng sẽ thật kinh hoàng nếu phải làm nó suốt cả đời 

MỘT VÀI QUAN NIỆM VỀ SỰ SỐNG ĐỜI SAU NGOÀI KITÔ GIÁO

MỘT VÀI QUAN NIỆM VỀ SỰ SỐNG ĐỜI SAU NGOÀI KITÔ GIÁO
1.       Khoa học và chủ nghĩa vô thần
Khoa học
Đối với các nhà khoa học, mặc dù họ rất mong muốn sự bất tử, nhưng lý trí khoa học không chứng minh được có sự bất tử theo quan điểm của các tôn giáo truyền thống nên họ không thể tin vào sự bất tử theo quan điểm của các tôn giáo.
Carl Sagan (1934-1996), nhà thiên văn học nổi tiếng Mỹ đã từng là giáo sư thiên văn học ở Đại học Harvard và Đại học Cornell ở Ithaca, New York viết:“Nếu có bằng chứng tốt về cuộc sống ở kiếp sau được công bố, tôi sẽ là người sốt sắng trong việc xem xét vấn đề này; nhưng đó phải là những cứ liệu khoa học, không phải là chuyện huyền thoại ... Tôi nói, thà rằng sự thật cay nghiệt còn hơn sự tưởng tượng dùng để an ủi”... “Tôi cũng thích tin rằng sau khi tôi chết tôi sẽ sống lại, rằng một phần tư duy, tình cảm, ký ức của tôi sẽ tiếp tục tồn tại. Nhưng càng muốn tin vào điều đó, và mặc dù những truyền thống văn hóa lâu đời khắp thế giới khẳng định có kiếp sau, tôi càng không thấy có gì hơn rằng đó chỉ là điều suy nghĩ mong ước (a wishful thinking) mà thôi”.
Nhà bác học Albert Eintein (1879-1955) đã phê phán hạn chế của các quan điểm tôn giáo lấy sự mong muốn bất tử của cá nhân và sự hứa hẹn được ban thưởng ở kiếp sau làm động cơ đạo đức của cá nhân. Ông nói: “Tôi không tin vào sự bất tử của cá nhân. Tôi coi đạo đức chỉ liên quan đến con người mà thôi và không có một quyền lực siêu nhân nào ở đằng sau cả.”
Einstein đã vạch ra sự phi lý trong quan niệm về sự ban thưởng hay trừng phạt của Thượng đế, vì điều này mâu thuẫn với quan niệm của tôn giáo về tính toàn năng của Thượng đế. Sự ban thưởng, trừng phạt chỉ chứng tỏ sự bất lực. Hơn nữa, dùng sự ban thưởng và trừng phạt để kích thích hành vi đạo đức chỉ dẫn đến sự ích kỷ của con người. Einstein viết: “Tôi không thể hình dung một vị Thượng đế lại đi ban thưởng hay trừng phạt những sản vật của chính sự sáng tạo của mình”. Cũng theo Einstein, “Hành vi đạo đức của một người phải dựa một cách có hiệu quả trên tình cảm, giáo dục, quan hệ và nhu cầu xã hội; không cần có một cơ sở tôn giáo nào. Con người sẽ thật là tồi tệ nếu anh ta phải kiềm chế vì sợ bị trừng phạt hoặc hy vọng ở sự ban thưởng sau khi chết.”
Về sự bất tử của cá nhân, Einstein bác bỏ các quan niệm tôn giáo và đưa ra quan niệm về “sự bất tử tương đối” (relative immmortality). Einstein nói: “Sự bất tử ư ? Có hai loại. Loại thứ nhất nằm trong trí tương tượng của con người và do vậy chỉ là một ảo tưởng. Có một sự bất tử tương đối đó là sự duy trì ký ức về một cá nhân qua một số thế hệ. Tuy nhiên, chỉ có một sự bất tử thật sự duy nhất, ở phạm vi vũ trụ, đó là sự bất tử của chính vũ trụ. Không có một sự bất tử nào khác”.
Chủ nghĩa vô thần
Đối với học thuyết Cộng sản của Marx và Lénine chúng ta quan tâm hơn hết đến một điểm là chủ trương duy vật. Vì chủ trương duy vật chỉ nhận có vật chất là nguyên lý và là đích cùng của vạn vật, nên học thuyết đó tất nhiên cũng chủ trương vô thần. Đã chủ trương vô thần, nó phải hoàn toàn đối nghịch với tất cả những gì là tinh thần, siêu việt, tín ngưỡng, hoặc đạo lý; nói thể khác, nó hoàn toàn đối nghịch với chân lý nói chung, và học thuyết Công giáo nói riêng. Nói tóm lại nó công khai chống Thiên Chúa mà bọn họ coi chỉ là sản phẩm của óc tưởng tượng. Vì đã chủ trương duy vật vô thần, và vì thế vất bỏ tất cả những gì là siêu việt, lương tâm, luân lý...

2.      Phật giáo
Luật quả báo
Theo thuyết luân hồi của Phật Giáo, không có vấn đề thưởng phạt sau khi chết, mà chỉ có quả báo. Thực ra, thưởng phạt hay quả báo chỉ là hai cách diễn tả khác nhau về cùng một thực tế, xuất phát từ hai quan điểm khác nhau về nguồn gốc vũ trụ vạn vật. Thưởng phạt hay quả báo đều diễn tả cùng một thực tế là: làm ác thì gặp ác, làm lành thì gặp lành. Nhưng theo quan niệm thưởng phạt thì có một Thượng Ðế (có ngôi vị) cầm cân nẩy mực xét đoán thế gian theo luật công bằng của mình và cũng có thể theo cảm tình của mình nữa, phần nào tương tự như một vị chánh án ở tòa án trần gian. Còn theo quan niệm quả báo, không có vị nào thưởng phạt cả, mà chỉ có luật quả báo hay nhân quả tác dụng một cách hết sức máy móc vào mọi người cũng như mọi vật, do đó hết sức khách quan, vô tư: Hễ gây nhân ác thì sớm muộn gì cũng sẽ gặp quả ác tương xứng, gây nhân thiện thì cũng sẽ gặp được quả thiện hoàn toàn tương xứng.
Theo luật quả báo của Phật Giáo, ai làm ác thì đã tạo ra một cái nhân ác. Nhân ác khi gặp nhân duyên thuận lợi đối với nó sẽ sinh ra quả ác, là đau khổ. Còn ai làm điều thiện thì tạo ra nhân thiện. Nhân thiện sẽ sinh ra quả thiện tức hạnh phúc. Nhân càng to thì quả càng lớn một cách rất tương xứng. Do đó, có sự công bằng hoàn toàn. Và quả dù có to lớn đến đâu thì cũng đều có giới hạn của nó. Chúng sinh dù có thông minh sáng suốt đến đâu, dù có quyền lực hay khả năng tới đâu cũng đều là những sinh vật hữu hạn, không thể tạo ra những nhân thiện hay ác vô hạn được, do đó không thể sinh ra những qủa thiện hay ác vô cùng được. Như vậy, những cảnh khổ hay sướng do những hành động ác hay thiện của con người luôn luôn có giới hạn, nghĩa là dù khổ hay sướng thì cũng chỉ chịu hoặc hưởng một thời gian nào đó thôi. Tất cả những cảnh giới đau khổ hay sung sướng, thiên đàng hay địa ngục của Phật Giáo đều là những trạng thái biến đổi, vô thường như mọi trạng thái hiện tượng khác. Do đó, không có một thiên đàng vĩnh cửu hay hỏa ngục đời đời nào cả. Một tội nặng nhất trần gian đi nữa thì cũng là một tội hữu hạn, thuộc bình diện hiện tượng vô thường, nếu có phạt thì hình phạt tương xứng cũng chỉ là hữu hạn, cũng thuộc bình diện hiện tượng vô thường thôi. Tội hữu hạn mà lại phạt bằng một hình phạt vô hạn thì làm sao gọi là công bằng được. Hình phạt phải tương xứng với tội ác mới công bằng. Vả lại, bản chất con người đâu phải cứ xấu mãi. Kẻ xấu nhất cũng phải có lúc tốt. Phạt vĩnh viễn là giả thiết rằng hễ đã xấu là xấu mãi, không sửa đổi được. Hơn nữa, hình phạt chỉ gọi là hình phạt khi nó có mục đích giáo dục, nghĩa là làm cho đối tượng trở nên tốt hơn. Nếu không có mục đích đó, thì không còn là hình phạt nữa, mà là báo thù. Phạt bằng một hình phạt vĩnh viễn thì rõ ràng là không có mục đích giáo dục, vì không còn cho họ có cơ hội hối cải để trở nên tốt hơn và hạnh phúc hơn. Do đó, hình phạt đời đời vừa là bất công, vừa mang tính trả thù độc ác mà người Phật Tử không thể chấp nhận được.
Còn thuyết luân hồi, mọi việc làm dù tốt hay xấu đều phát sinh những quả tương xứng, và quả đó có thể xảy ra trong kiếp hiện tại hay kiếp tương lai. Không có một tội ác nào mà không phải đền, cũng không có một việc lành nào mà không được bù đắp. Một người phạm một tội ác tày trời ngay trước khi chết và không kịp ăn năn, người đó sẽ phải đền tội ấy trong kiếp sau một cách rất tương xứng. Nếu trong thời gian đền tội ấy người đó có những việc làm tốt đẹp, thì số phận y sẽ trở nên tốt đẹp hơn. Như vậy, bất kỳ ở tình trạng nào, dù sướng hay khổ, thậm chí khổ cùng cực đi nữa, thì mọi chúng sinh đều có cơ may để làm cho tương lai của mình nên tốt đẹp hơn bằng những tư tưởng, lời nói hay hành động tốt đẹp. Không bao giờ có tình trạng tuyệt vọng như những người bị hình phạt đời đời cả.

3.      Hồi giáo
Không có một tôn giáo nào mô tả Thiên Đàng là một khu vườn với những lạc thú vật chất và nhất là những lạc thú nhục dục tuyệt đỉnh với những cô gái trinh đẹp tuyệt vời và trẻ mãi không già... như trong kinh Koran. Người ta gọi Thiên Đàng của Hồi Giáo là Thiên Đàng của lạc thú (The Paradise of Delights) hoặc Thiên Đàng của Kinh Koran (The Koranic Paradise).
Kinh Koran (47:15) cho biết trên thiên đàng có những con sông với những dòng nước nguyên chất (rivers of purest water) những con sông sữa tươi không bao giờ hư (rivers of milk for ever fresh) và những con sông mật ong trong sạch nhất (rivers of clearest honey). Chương 56:16-39 mô tả thiên đàng là những khu vườn lạc thú (garden of delights) và mọi người lên thiên đàng đều trở thành những thanh niên trẻ mãi không già (Immortal Youth). Điều đặc biệt nhất là trên thiên đàng Hồi Giáo có các cô gái trinh đẹp tuyệt vời với những cặp mắt đen huyền vô cùng quyến rũ (the dark-eye houris).
Thiên Chúa Allah đã phán rằng: "Ta đã tạo ra các cô trinh nữ tuyệt vời đó, giữ cho họ mãi mãi trinh trắng với tình yêu nồng nàn để làm phần thưởng cho những ai làm việc phải" (We created the hourist and made them virgins, loving compassion, a reward for those on the right hand - Koran: surah 56).
Hầu hết các thanh niên Hồi Giáo cuồng tín đều ước mơ sớm được lên thiên đàng lạc thú. Con đường ngắn nhất và bảo đảm nhất để họ đạt được mục đích này là sẵn sàng tử đạo trong

các cuộc thánh chiến (Jihad). Kinh Koran hứa rằng: "Những ai bị giết vì Chúa đều được vào thiên đàng lạc thú" (As for those who are slain in the cause of God, He will admit them to the Paradise of Delight). "Đừng bao giờ nghĩ rằng những người bị giết vì Chúa sẽ chết. Họ sẽ sống mãi, không có gì phải sợ hãi hoặc hối hận, hãy vui hưởng các hồng ân của Chúa. Chúa không bao giờ từ chối phần thưởng dành cho các tín đồ của Ngài" (Never think that those who were slain in the cause of God are dead. They are alive and well provided for by the Lord. Have nothing to fear or to regret, rejoicing in God's grace. God will not deny the faithful their reward - Koran 3:169)

BIẾT MÌNH ĐỂ HÒA VỚI MÌNH

BIẾT MÌNH ĐỂ HÒA VỚI MÌNH
“Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình” (Mt 22,39)
“Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình”. Nói rõ hơn: Ngươi phải yêu người thân cận như yêu chính mình. Như thế, Chúa Giêsu có dạy các môn đệ “ghét” bản thân họ đâu. Đúng hơn, phải yêu mình, hơn nữa, yêu mình còn là chuẩn mực để so sánh: yêu người thân cận như yêu chính mình. Phải nhấn mạnh như thế vì xem ra một số Kitô hữu hiểu lầm rằng Chúa dạy phải yêu thương tha nhân và phải ghét chính mình!
Lại thêm một hiểu lầm nữa khi nghĩ rằng, tưởng cái gì khó khăn chứ còn yêu mình thì quá dễ! Thực ra suy nghĩ đó chỉ là cái nhìn ở bề mặt chứ không phản ánh hoàn toàn thực tế. Biết bao lần trong cuộc đời, xuất hiện trong tâm trí ta những tiếc nuối: Giá mà mình có được chiều cao lý tưởng của anh chàng kia! Giá mà mình có được nước da trắng hồng của cô hoa khôi nọ! Giá mà mình được sinh ra trong gia đình danh giá đó! Giá mà mình được nổi tiếng như thế!... Rất nhiều và rất nhiều những thứ “giá mà”. Và hàm ẩn bên trong những “giá mà” đó là gì? Lại chẳng phải là sự phủ nhận chính mình, không chấp nhận con người thật của mình hay sao? Rồi từ đó là đủ thứ mặc cảm tự ti xen lẫn tự tôn, rồi ghen tị, giận dỗi, oán hờn, trách móc, có khi cả cuộc đời không thoát ra được.
Vậy phải hiểu thế nào về lời kêu gọi của Chúa Giêsu: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16,24)? Như đã trình bày trong bài trước, khi trở về trong thinh lặng và cô tịch, chúng ta khám phá và nhìn nhận những hình ảnh giả tạo về bản thân. Khi đó lời mời gọi của Chúa Giêsu cũng được đón nhận trong một ánh sáng mới: Hãy từ bỏ cái tôi ích kỷ, cái tôi xác thịt đi. Sự từ bỏ ấy là đòi hỏi hết sức khó khăn, cho nên được sánh với việc vác thập giá hằng ngày.
Tóm lại, yêu mình, sống hài hòa với chính mình, hóa ra không phải là chuyện dễ dàng và đơn giản. Để thực sự sống hài hòa với bản thân, phải nhận ra sự độc đáo của chính mình, khám phá tình yêu vô điều kiện nơi Thiên Chúa, nhờ đó biết chấp nhận chính mình và yêu chính mình.
1. Nhận ra sự độc đáo của mình
Mỗi người là một nhân vị độc đáo. Đã và sẽ không bao giờ có một người khác giống như bạn hoặc tôi. Chúng ta không cao trọng hơn, cũng chẳng thấp kém hơn bất cứ ai, nhưng mỗi chúng ta là chính mình, một con người độc đáo, không thể thay thế. Mỗi người có một vai trò riêng trong vận hành huyền nhiệm của vũ trụ và kế hoạch của Thiên Chúa. Điều quan trọng không hệ tại ở địa vị lớn hay nhỏ, nhưng là chính mình, trong vai trò của mình.
Trong thực tế của lịch sử, nhân loại thường rơi vào một trong hai thái cực, cả hai thái cực đều phản bội tính độc đáo của nhân vị. Thái cực thứ nhất là chủ nghĩa cá nhân ích kỷ. Chủ nghĩa này đề cao tính độc đáo của mỗi cá nhân nhưng lại hiểu tính độc đáo như là sự tách biệt khỏi mọi người và biến mình thành cái rốn của vũ trụ. Từ đó, tha nhân trở thành hỏa ngục, vật cản đường tiến bộ của cái tôi ích kỷ và ngạo mạn. Lối sống đó xem ra đề cao cái gọi là tính độc đáo nhưng thực ra chỉ đề cao cái tôi ích kỷ và hủy diệt tính độc đáo của tha nhân. Thái cực thứ hai là chủ nghĩa tập thể, ở đó người ta hủy diệt sự độc đáo của mỗi cá nhân, biến mọi người thành những con số, nhân danh lợi ích của tập thể và tương lai của một nhân loại mới. Thế nhưng một khi cá nhân không được tôn trọng đúng phẩm giá của họ thì làm sao có được tương lai của nhân loại mới, có chăng là tương lai của nhà tù!
Một câu truyện mang chất thiền có khả năng diễn tả phong phú hơn những lý luận:
“Một vị vua trồng cạnh lâu đài mình đủ thứ cây và vườn cây của nhà vua có cảnh sắc tuyệt đẹp. Cảnh sắc ấy cũng là nguồn vui và thư giãn cho nhà vua mỗi khi đi dạo. Rồi một ngày kia vua phải đi xa. Khi trở về, ông vội vã ra thăm vườn và hết sức đau lòng khi thấy cỏ cây trơ trụi.
Ông đến gần cây hoa hồng vốn cung cấp những cánh hoa nhan sắc tuyệt vời, hỏi xem có chuyện gì đang xảy ra. Cây hoa hồng tâm sự: “Tôi nhìn thấy cây táo kia và tự nhủ chẳng bao giờ mình sinh sản được những trái ngon như thế, rồi tôi chán nản và khô héo”.
Nhà vua lại đến thăm cây táo đang tàn úa và nghe nó kể lể: “Tôi nhìn cánh hồng kiêu sa đang tỏa hương và tự nhủ sẽ chẳng bao giờ tôi được đẹp đẽ và dễ thương như thế, rồi tôi bắt đầu khô héo”.
Thế rồi nhà vua phát hiện một cánh hoa bé bỏng vẫn tràn đầy sức sống. Khi được hỏi thăm, cánh hoa tâm sự: “Tôi cũng sắp úa tàn vì thấy mình không có vẻ đẹp của đóa hồng, cũng chẳng có trái ngon của cây táo, nhưng rồi tôi tự nhủ: Nếu nhà vua, vốn là người giàu có và quyền lực, không muốn tôi có mặt trong cánh vườn này, thì ông đã bứng tôi đi lâu rồi. Còn nếu nhà vua muốn giữ tôi lại, hẳn là vì ông muốn tôi là tôi chứ không là cái gì khác. Kể từ đó, tôi vui tươi và vươn cao sức sống hết sức có thể”.
2. Tình yêu vô điều kiện
Theo kinh nghiệm tự nhiên, tình yêu nơi con người luôn luôn kèm theo điều kiện nào đó: tôi yêu người này vì họ đẹp, tôi yêu người kia vì họ giàu, tôi yêu người nọ vì họ hợp sở thích với mình. Nghĩa là hàm trong cái gọi là tình yêu, vẫn có bóng dáng của cái tôi ích kỷ, cái tôi xác thịt. Khó có thể hình dung một tình yêu hoàn toàn “vô điều kiện”. Khởi đi từ kinh nghiệm cụ thể đó, khi nói đến tình yêu nơi Thiên Chúa, người ta cũng dễ hình dung một thứ tình yêu “có điều kiện”, cho dù miệng vẫn nói đến từ “tình yêu nhưng không”. Cũng vì thế, nhiều khi người ta đến với Chúa bằng những tính toán y như với người thế gian: Xin Chúa nhớ kỹ, con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con đấy! (x. Lc 18,12).
Đàng khác, phải chăng tự thâm sâu tâm hồn, chúng ta vẫn tin rằng có một tình yêu hoàn toàn vị tha và thanh khiết? Phải chăng vì thế chúng ta trầm trồ thán phục Mẹ Têrêxa Calcutta khi thấy bà yêu thương và phục vụ những con người không đáng yêu chút nào! Phải chăng vì thế mà cả thế giới ngỡ ngàng và khâm phục khi thấy Đức giáo hoàng Phanxicô ôm hôn “người mặt quỷ”?
Trực giác đó hoàn toàn chính xác. Vâng, có một tình yêu như thế. Thiên Chúa yêu thương chúng ta bằng tình yêu hoàn toàn “cho không”, vô điều kiện. Ngài không yêu thương tôi và bạn với điều kiện là chúng ta phải thế này, thế khác. Chúng ta cũng chẳng chiếm được tình yêu của Chúa bằng cách này, cách khác. Tình yêu của Chúa là tình yêu của Đấng “cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất lương” (Mt 5,45). Một bài tình ca ngày xưa diễn tả rất chính xác: “Tình cho không, biếu không. Bạn không bán, cũng chẳng mua được tình yêu” (L’amour, c’est pour rien. Tu ne peux pas le vendre. Tu ne peux l’acheter). Erich Fromm hoàn toàn có lý khi ông phát biểu, “Tình yêu là một thái độ chung nhất đối với mọi người mọi vật, kể cả với chính mình”.
Thiên Chúa yêu thương mỗi người như họ là, dù có tệ hại đến đâu. Thế nên cảm nghiệm của các nhà thần bí về việc Thiên Chúa yêu thương chúng ta hơn chúng ta yêu thương mình là điều hoàn toàn chính xác. Chính tình yêu đó khơi nguồn cho chúng ta để có thể tập sống tình yêu vô điều kiện trong cuộc đời.
3. Chấp nhận và yêu chính mình
Nhận ra sự độc đáo của mình và khám phá tình yêu vô điều kiện nơi Thiên Chúa, đây là những nền tảng giúp ta chấp nhận và yêu thương chính mình như mình là, bằng một tình yêu vô điều kiện.
Trước hết là yêu chính thân xác hiện có của mình. Xem ra hơi lạ, có ai lại không lo cho thân xác mình được khỏe mạnh và đẹp đẽ đâu, chỉ sợ không đủ điều kiện tài chính thôi! Đúng như thế. Nhưng cũng lại có một thực tế khác là nhiều khi chúng ta không chấp nhận thân xác của mình. Không chấp nhận vì nó già nua, xấu xí, tật nguyền, không đạt chuẩn của các hoa hậu! Có khi không chấp nhận vì lý do xem ra rất đạo đức: thân xác này là nguyên cớ gây ra tội lỗi trong đời, làm tôi xa cách Chúa! Ấy là chưa kể đến quan niệm nhị nguyên âm thầm chi phối đời sống thiêng liêng, với ý nghĩ rằng phải hủy diệt thân xác này đi thì linh hồn mới bay bổng lên với Chúa được!
Thế nên vẫn không phải là thừa khi nói rằng con người là một hữu thể toàn diện xác-hồn, thân xác không phải là cái gì tách biệt với tôi nhưng là chính tôi. Vì thế yêu mình là phải yêu thương chính thân xác của mình, chăm sóc và cư xử tốt với thân xác. Tình yêu ấy đòi hỏi ta quan tâm đến sức khỏe thân xác, ăn uống lành mạnh, tập thể thao, biết nghỉ ngơi. Cũng chính tình yêu ấy không cho phép ta hủy hoại thân xác, không những qua hành động tự sát, mà còn qua những thứ nghiện ngập gây hại cho thân xác.
Về mặt tinh thần, cũng phải chấp nhận và yêu thương chính mình như mình là, cho dù trong quá khứ có những lầm lỗi lớn lao đến đâu. Phải học tha thứ cho chính mình. Đôi khi công việc này còn khó khăn hơn cả việc tha thứ cho người khác, vì ta cảm thấy chán nản và thất vọng về chính bản thân mình: Sao tôi lại có thể làm chuyện tệ hại như thế? Sao tôi lại để cho mình ra nông nỗi này? Chính vì thế khoa tâm lý chiều sâu nói đến việc đón nhận những mảng tối của cuộc đời. Đón nhận không có nghĩa là thỏa hiệp với cái xấu đã làm, nhưng là nhìn nhận sự thật về chính mình, rồi chấp nhận sự thật đó bằng tình yêu chứ không bằng thù ghét hoặc bất mãn với bản thân.
Đón nhận như thế giả thiết sự khiêm tốn đích thực. Humilitas veritas est, Khiêm tốn là sự thật. Khiêm tốn không phải là những cử chỉ nhún nhường bên ngoài để “đắc nhân tâm”, nhưng là nhìn nhận sự thật về chính mình. Chính vì thế, có biết mình và yêu mình đúng nghĩa thì mới có thể sống hòa với chính mình. Niềm bình an nội tâm phát xuất từ đây và khơi nguồn cho đời sống hài hòa với Thiên Chúa và với tha nhân.   ■

Thứ Tư, 18 tháng 5, 2016

Thực trạng sinh viên ra trường

Thực trạng sinh viên ra trường
Đầu đường Xây dựng bơm xe.
Cuối đường Kinh tế bán chè đậu đen.
Ngoại thương mời khách ăn kem.
Các anh Nhạc viện thổi kèn đám ma.
Ngân hàng ngồi dập đô la.
In giấy vàng mã, sống qua từng ngày.
Sư phạm trước tính làm thày.
Giờ thay kế toán, hàng ngày tính lô.
Điện lực chẳng dám bô bô,
Giờ đang lầm lũi phụ hồ trên cao.
Lập trình chả hiểu thế nào,
Mở hàng trà đá, thuốc lào...cho vui.
Nông nghiệp hỏi đến ngậm ngùi,
"Số em chắc chỉ tiến lùi theo trâu"
Nhìn quanh, Thương mại đi đâu?
Hóa ra là đã nhảy tàu đi buôn...
Ngoại ngữ vẻ mặt thoáng buồn
Đang ngồi viết sớ, kiêm luôn bói bài.
Báo chí buôn bán ve chai.
Giao thông đi chở thuê ngoài Đồng Xuân.
Bách khoa cũng gặp đôi lần
Buôn đồ điện hỏng, kiếm cân dây đồng.
Mỹ thuật thì đang chổng mông
Đục khắc bia mộ, cũng mong lên đời.
Mỏ địa chất mới hỡi ôi
Sáng thồ hai sọt, chào mời mua than.
Thuỷ sản công việc an nhàn
Sáng cân mớ cá, cuối làng ngồi rao...!
Hàng hải ngồi gác chân cao
Bao giờ trúng số mua tàu ra khơi.
Bác sĩ, y tá có thời
Học xong về huyện được mời chích heo...

(Lượm trên Phây)

Thứ Bảy, 14 tháng 5, 2016

Cầu Xin Chúa Thánh Thần

Hãy cầu xin Chúa Thánh Thần là Thần Khí của Bình An giúp chúng ta giải quyết các vấn đề, mài tròn các góc cạnh, xây dựng một xã hội tốt đẹp, đích thực.
http://mp3.zing.vn/bai-hat/cau-xin-chua-thanh-than-lm-jb-nguyen-sang/zwzbo8a7.html

Thứ Sáu, 13 tháng 5, 2016

Bài hát: Lặng - Hiền Thục

Bài hát: Lặng - Hiền Thục 

1. Lặng...để nghe tiếng sóng, sóng xô, xô trong lòng ta 
Lặng...để nghe tiếng gió, gió cuốn cơn đau ngày sau. 
Lặng... để nghe nước mắt hắt hiu trên đôi bờ mi xanh. 
Đời sao vắng tanh cho trái tim xanh tàn nhanh. 

Nhìn...nhìn lên Thánh Giá, Chúa đang dang tay lặng im. 
Từ...từ trên Thánh Giá, Chúa có nghe con nài van! 
Vì...vì sao Chúa hỡi cứ như...như vô tình không nghe? 
Lòng con sắt se ôm nỗi đâu riêng Ngài ơi! 

ĐK: 
Vì sao Chúa hỡi, Ngài đành mặc bỏ con vậy sao? 
Đời con lao đao bao nhiêu yêu thương sầu tim vỡ... 
Vì sao Chúa nỡ lặng nhìn và muốn con lặng thinh? 
Nhận bao hi sinh đau thương như Chúa trên Thập hình. 

2. 
Lặng...để nghe tiếng Chúa, nói trong trong tâm hồn ta 
Lặng...để nghe Chúa nói...Thánh Giá Ta mang vì ai... 
Lặng...để nghe Chúa khóc, khóc khi ta vô tình quay đi 
Nhiều khi vấn nghi ơn Chúa trên bao ngày qua. 

Lặng...để ta thấy Chúa bước đi song song cùng ta 
Lặng...để ta thấy Chúa đau đớn hơn ta khổ đau 
Lặng...để ta thấy Chúa sớt chia bao vui buồn không tên 
Ngài luôn ở bên, con có hay đâu Ngài ơi...
http://www.nhaccuatui.com/bai-hat/lang-hien-thuc.2PwCDmYa2uqg.html

BẢO VỆ MẸ THIÊN NHIÊN

BẢO VỆ MẸ THIÊN NHIÊN
“Loại thế giới nào chúng ta muốn chuyển lại cho những người đến sau chúng ta, cho các trẻ em đang lớn lên?” Đức Thánh Cha Phanxicô.
Đây là chủ đề mà tôi thích nhất trong nhiều chủ đề của Chương Trình Chuyên Đề Giáo Dục – Ban Mục Vụ Gia Đình. Thế nhưng, tôi không tưởng được tham dự viên hôm đó lại toàn các nữ tu các thầy tu, đó là một điều khiến tôi lo lắng. Tôi lo lắng vì thảm họa từ thiên nhiên không riêng một ai, vậy mà tại sao ít người lại để ý đến thế ngay khi Đức Thánh Cha Phanxicô ra Thông điệp Laudato Si’. Thông điệp kêu gọi các Kitô hữu quan tâm đến Tạo hóa và đừng làm ngơ trước những vết thương của mẹ thiên nhiên.
Mấy ngày gần đây nhân các vụ biểu tình về môi trường, tôi lại càng ngẫm nghĩ về thông điệp của Đức Thánh Cha: Có phải con người bây giờ ích kỷ nhỏ nhen đến vậy? Khai thác đến cạn kiệt các nguồn tài nguyên không trừ những thứ gì miễn là kinh doanh được? Tại sao họ có tất cả đội ngũ để nghiên cứu vậy mà không có đội ngũ bảo vệ môi trường, có phải vì lòng tham không? 
Gia đình tôi cũng khó khăn rất nhiều trong đợt biến đổi khí hậu này, nó khiến kinh tế gia đình chúng tôi bị thu hẹp, trồng lúa thì không có nước, nuôi cá thì không có nước để thay nước thường xuyên vì nhà tôi cũng nuôi vịt nữa, đó là những gì mà mang lại thu nhập chính cho gia đình tôi. Tôi nghĩ lại thật là đau lòng vì những mà thiên nhiên đem lại là do chính con người và lòng tham của mình.
Và trong thời gian gần đây, vấn đề môi trường, biến đổi khí hậu đã ảnh hưởng rõ rệt đến người dân Việt Nam và trên toàn thế giới. Tuy nhiên, ý thức bảo vệ môi trường sống lại chưa được chú trọng một cách xác đáng, và hậu quả để lại rất rõ ràng, nhất là xâm nhập mặn ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, thiếu nước sinh hoạt ở miền Trung và hạn hán khắc nghiệt ở Tây Nguyên đang được báo động trong những ngày qua.
Có lẽ, bảo vệ mẹ thiên nhiên đang là một vấn đề cấp bách mà Đức Thánh Cha Phanxicô đã ban hành Thông điệp Laudato Si’ với câu hỏi mở đầu: “Loại thế giới nào chúng ta muốn chuyển lại cho những người đến sau chúng ta, cho các trẻ em đang lớn lên?”, đồng thời xác định rõ trái đất là căn nhà chung của chúng ta, “cũng như người chị chúng ta, chúng ta chia sẻ cuộc sống với chị ấy, và như người mẹ tươi đẹp đón nhận chúng ta trong vòng tay của mẹ”. Thông điệp mời gọi mọi người hãy “hoán cải về môi sinh”, đón nhận vẻ đẹp và trách nhiệm dấn thân để 'săn sóc căn nhà chung'.
Nhưng thiên nhiên là có hạn, trong khi đó lòng tham của con người thì vô hạn, khai thác một cách quá đáng như: Nạn phá rừng, săn bắt, khai thác mỏ…, làm cho thiên nhiên bị tổn thương. Hậu quả là thiên tai rất nặng nề như: Cháy rừng, bão tố, băng tan.
Tôi và bạn hãy cùng chung tay “bảo vệ mẹ thiên nhiên” nhé, đừng có ích kỷ hay lòng tham, mà hãy làm chứng cho bằng việc trái đất sẽ không có những thiên tai đáng tiếc, bạn có nhớ những câu mà mình hay hát thời ấu thơ không, bài hát có lời là:
Trái đất này là của chúng mình.
Cùng xiết tay môi thắm cười xinh.
…………………………………..
Hành tinh này là của chúng ta.
Hành tinh này là của chúng ta.