Chủ Nhật, 19 tháng 2, 2017

YÊU

                                       “Làm sao sống được mà không yêu?
                                        Không nhớ không thương một kẻ nào!” (Xuân Diệu)
Sở dĩ nói như vậy, là vì tôi nghĩ ai trong chúng ta cũng đã yêu và chắc cũng đã được yêu. Và tôi nghĩ rằng chính mỗi chúng ta đều đã trải qua cái cảm giác yêu và được yêu. Thật kì diệu phải không? Tình yêu có thể làm cho con người ta trở nên mạnh mẽ phi thường như những siêu anh hùng, và cũng chính tình yêu có thể làm cho ta trở nên yếu đuối, nhút nhát, rụt rè khi đối diện với nó. Lịch sử cũng đã chứng kiến rất nhiều những chuyện tình nổi tiếng như chuyện tình giữa Paris và Helen đã khiến thành Troy sụp đổ, chuyện tình giữa Orpheus và Eurydice khi anh quyết đưa vợ từ cõi chết trở về với tài năng âm nhạc của mình, hay chuyện tình của Romeo và Juliet….
Đến bây giờ vẫn chưa có định nghĩa chính xác về tình yêu, mỗi câu chuyện tình yêu là một định nghĩa, nhưng nhìn chung thì tình yêu là sự khởi xướng trao ban của một người và là sự nhận lãnh đáp trả của một người. Khi yêu chúng ta sẽ cố gắng làm tất cả những gì tốt nhất cho người mình yêu, muốn thấy người mình yêu luôn vui vẻ, hạnh phúc.  Khi yêu ai, bạn sẽ thấy người ấy đẹp về mọi mặt kể cả giọng nói, tiếng cười hay cử chỉ hằng ngày. Và bạn sẽ làm tất cả để được ở bên người mình yêu, tôi nói vậy có đúng không?
Tình yêu là một chủ đề rất hấp dẫn bởi nó đem lại cho chúng ta rất nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau. Vui có, buồn có, giận có, yêu có, thương có, ghét có… Các nhà văn nhà thơ cũng đã tốn rất nhiều giấy mực để nói lên tình yêu. Nhưng tất cả đó chỉ là tình yêu lứa đôi, tình yêu của cảm xúc.
Hôm nay, tôi muốn đề cập đến một tình yêu lớn lao, một tình yêu vĩ đại. Tình yêu của người hiến mạng sống mình vì chúng ta, đó là tình yêu của Đức Giêsu Kitô. Vâng, đó quả là một tình yêu lớn lao và vĩ đại vượt trên mọi câu chuyện tình yêu khác. Chúa  Giêsu với thân phận cao quý là con một Thiên Chúa, với ngai vàng cao quý, Ngài đã từ bỏ tất cả để xuống thế làm người vì chúng ta. Ngài yêu chúng ta nên đã từ bỏ tất cả những cái cao sang quyền quý, danh gia vọng tộc. Ngài yêu chúng ta và Ngài đã thể hiện tình yêu ấy quá rõ qua hành động của Ngài là. “ Chịu chết vì chúng ta!”
Chuyện Tình yêu của Thiên Chúa với chúng ta vẫn còn đó, vẫn được nhắc đi nhắc lại mỗi ngày để chúng ta có thể cảm nghiệm sâu sắc hơn nữa về tình yêu của Ngài. Là mỗi Kitô hữu, chúng ta phải thể hiện mình là người yêu của Chúa đó là phải biết yêu thương nhau như Chúa đã yêu thương, như thế chúng ta mới xứng đáng là muôn đệ của người.

                                                                                                   Gioan Lê Anh Đào

Thứ Hai, 13 tháng 2, 2017

TRUYỀN THUYẾT VALENTINE

Lịch sử Ngày Tình Nhân (Valentine’s Day) vẫn còn là điều bí ẩn. Nhưng chúng ta biết rằng từ lâu tháng Hai đã là tháng của sự lãng mạn. Ngày lễ thánh Valentine là Ngày Tình Nhân, như chúng ta thấy ngày nay, gồm các vết tích của cả truyền thống Kitô giáo và truyền thống La Mã. Do đó, thánh Valentine là ai và được kết hợp với nghi lễ cổ này thế nào? Ngày nay, Công giáo nhận thấy ít nhất có 3 vị thánh có tên là Valentine hoặc Valentinus, 3 vị này đều tử đạo.

Một truyền thuyết cho rằng thánh Valentine là một linh mục sống hồi thế kỷ III ở Rôma. Khi hoàng đế Claudius II nói rằng binh sĩ độc thân này phục vụ tốt hơn những người có vợ và có gia đình, hoàng đế đã ra lệnh cấm cử hành lễ cưới cho các thanh niên. Thánh Valentine nhận thấy luật này bất công nên phản đối Claudius và vẫn bí mật cử hành lễ cưới cho các thanh niên yêu nhau. Việc làm của Valentine bị lộ, Claudius ra lệnh giết Valentine.

Các truyền thuyết khác cho rằng có lẽ Valentine bị giết vì “tội” giúp những người Kitô giáo trốn khỏi các nhà tù độc ác của Rôma.

Theo một truyền thuyết, chính Valentine đã gởi tấm thiệp tình yêu đầu tiên. Khi bị tù, Valentine phải lòng một cô gái trẻ (có thể là con gái của viên cai ngục) thường xuyên đến thăm ông. Trước khi chết, Valentine đã viết một lá thư, viết rõ “Người gởi: Valentine”, cách nói mà ngày nay vẫn dùng. Mặc dù sự thật về Valentine vẫn chưa rõ, nhưng các chuyện kể chắc chắn nhấn mạnh sức thu hút của Valentine là cảm thông, anh dũng, và đặc biệt là rất lãng mạn. Không lạ gì vào thời Trung cổ, Valentine là một trong các vị thánh được sùng kính nhiều ở Anh quốc và Pháp quốc.

Trong khi một số người tin rằng Ngày Tình Nhân được cử hành vào trung tuần tháng Hai để tưởng niệm ngày thánh Valentine qua đời – có thể từ khoảng năm 270, một số người khác lại tin rằng Kitô giáo có thể đã quyết định mừng lễ thánh Valentine vào giữa tháng Hai để cố gắng “Kitô hóa” lễ hội Lupercalia (*) của người ngoại giáo. Thời La Mã cổ đại, tháng Hai là tháng chính thức khởi đầu màu Xuân và được coi là thời gian thanh tẩy. Nhà cửa được dọn dẹp bằng cách quét sạch rồi rắc muối và bột mì mịn khắp trong nhà. Lễ hội Lupercalia bắt đầu từ ngày 15-2 (ides of February), đây là “lễ hội màu mỡ” (fertility festival, nghĩa là có khả năng sinh sản) dâng cúng thần Faunus (thần nông nghiệp La Mã), đồng thời tưởng nhớ hai người sáng lập là Romulus và Remus.

Bắt đầu lễ hội này, các thành viên Luperci (các tư tế La Mã) tụ họp tại một hang thánh (sacred cave), nơi có hai trẻ nhỏ Romulus và Remus được coi là được sói mẹ nuôi dưỡng. Lúc đó các tư tế hiến tế một con dê để cầu xin sự màu mỡ, và một con chó để cầu xin sự thanh tẩy.

Rồi các trẻ trai cắt da dê thành từng dải, nhúng các sợi da dê vào máu hiến tế và đem ra đường phố, rồi đập nhẹ các sợi da dê vào các phụ nữ và ruộng nương. Các phụ nữ La Mã không sợ mà lại thích thú được da dê chạm vào mình vì họ tin rằng các dải da dê có thể làm cho họ có khả năng sinh sản trong năm tới. Theo truyền thuyết, cuối ngày đó các cô gái trong thành phố sẽ đặt tên mình vào một cái bình lớn. Mỗi thanh niên độc thân sẽ chọn một tên trong chiếc bình đó và hai người sẽ cặp đôi với nhau. Việc cặp đôi này thường kết thúc bằng một đám cưới.

Giáo hoàng Gelasius tuyên bố ngày 14-2 là lễ thánh Valentine từ khoảng năm 498. Hệ thống “xổ số” của La Mã về việc cặp đôi lãng mạn được nghĩ là không bắt nguồn từ Kitô giáo và không đúng luật. Sau đó, vào thời Trung cổ, dân Pháp và Anh tin rằng ngày 14-2 là khởi đầu mùa chim chóc giao phối, ý tưởng này được thêm vào Ngày Tình Nhân để tăng thêm vẻ lãng mạn. Ngày nay, một bài thơ cổ của Charles, công tước vùng Orleans, làm tặng phu nhân khi ông ở trong nhà tù tại Tháp London sau khi bị bắt trong trận Agincourt. Lời chúc mừng, được viết năm 1415, là một phần trong bộ sưu tập bản thảo của Thư viện Anh quốc ởLondon. Vài năm sau, người ta cho rằng vua Henry V đã “đặt hàng” John Lydgate viết một lá thư ngắn gởi cho nàng Catherine ở Valois.

Ở Anh quốc, Ngày Tình Nhân bắt đầu được phổ biến rộng rãi vào khoảng thế kỷ XVII. Giữa thế kỷ XVIII, ngày này phổ biến trong giới bạn bè và những người yêu nhau ở các tầng lớp xã hội để trao tặng nhau những kỷ vật hoặc thư viết tay nhằm thể hiện tình cảm. Cuối thế kỷ XVIII, các thiệp in bắt đầu tahy thế thu viết tay vì kỹ thuật in ấn tân tiến. Tặng thiệp là cách thể hiện tình cảm dễ dàng hơn nói trực tiếp. Có lẽ người Mỹ đã bắt đầu tặng nhau những tấm thiệp Valentine tự làm từ đầu thập niên 1700. Vào thập niên 1840, Esther A. Howland bắt đầu sản xuất hàng loạt và bán những tấm thiệp Valentine ở Mỹ.

Theo Hiệp hội Thiệp, ước tính có tới 1 tỷ tấm thiệp Valentine được gởi tặng mỗi năm, làm cho Ngày Tình Nhân là ngày tặng thiệp nhiều thứ nhì trong năm, so với dịp Noël ước tính có tới 2,6 tỷ tấm thiệp được gởi đi. Xấp xỉ 85% thiệp Valentine được nữ giới mua tặng “chàng”.

TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ)

(*)Tuy các nguồn tài liệu thời hiện đại nói không rõ về ngày lễ về và tình yêu của Greco-Roman nằm vào tháng hai, giáo sư Jack Oruch của việnkhoa học của Kansascho là không có sự liên kết nào của vị thánh tên Valentinusvà tình yêu lãng mạn.Những nguồn liên kết trước đó nhắm vào sự hy sinh thay vì tình yêu lãng mạn. Tronglịch Attic, thời kỳ giữa tháng giêng đến giữa tháng hai trong lịch củalịch Hy Lạp, là thời gian tưởng nhiệm về đám cưới linh thiêng của ZeusvàHera.

Trong thời kỳ La Mã cổ đại, lễ Lupercalia được tổ chức vào ngày 13–15 tháng Hai, một nghi thức cổ xưa về sinh sản. Lễ Lupercalia là lễ riêng của TP Roma. Ngày lễ được tổ chức quy mô toàn quốc là lễ Juno Februa (Juno là đấng trong sạch hoặc đấng đồng trinh) được tổ chức vào ngày 13–14 tháng Hai. ĐGH Gelasius I (492–496) đã bỏ lễ Lupercalia. Một số nhà sử học đoán rằng lễ Candlemas(Lễ Nến, ngày 14 tháng Hai, về sau chuyển sang ngày 2 tháng Hai) được thay thế cho lễ Lupercalia, nhưng lễ Candlemas đã được bắt đầu tạiTP Giêrusalem vào năm 381 trước công nguyên. Năm 500 sau công nguyên, Đức Giáo Hoàng chuyển lễ Valentine vào ngày 15 tháng Hai, và rồi được chuyển sang ngày 14 tháng Hai