Thứ Tư, 28 tháng 9, 2016

Ích Lợi và Việc Lạm Dụng Công Nghệ Trong Phụng Vụ Thánh

Phải nhìn nhận rằng xã hội hiện nay đang có những bước nhảy vọt về nhiều mặt, đặc biệt là những phương tiện khoa học kỹ thuật ra đời như “nấm mọc sau mưa”, và mức độ hiện đại càng ngày càng tăng. Thật không ngoa khi con người ngày hôm nay cho rằng: Đây là thời đại của công nghệ số. Rõ ràng những phương tiện hiện đại như iphone, ipad, laptop được thay đổi liên tục từ mẫu mã, chất lượng, tốc độ cũng như tính hiện đại ngày càng cao.
Không ai phủ nhận mức độ tiện lợi và hiện đại của công nghệ số trong đời sống của mình. Ngày nay, trong Thánh lễ cũng như trong các cử hành phụng vụ, phương tiện công nghệ cũng góp phần đáng kể. Tuy nhiên, nếu không cẩn thận, chúng ta sẽ rơi vào tình trạng lạm dụng, làm mất đi tính chất thánh thiêng, truyền thống khi cử hành phụng vụ thánh. Vậy cần phải sử dụng những phương tiện hiện đại này như thế nào để giúp cộng đoàn tham dự phụng vụ cách sốt sắng ?
1. Sự bùng nổ và ích lợi của Công Nghệ - phương tiện kỹ thuật số - trong đời sống con người và trong công tác mục vụ, phụng vụ.
Trong một buổi phỏng vấn, Chủ Tịch Hội Đồng Giáo Hoàng về Truyền Thông, Tổng Giám Mục Claudio Maria Celli phát biểu: “Các phương tiện truyền thông hiện đại là một thách thức nhưng cũng là một cơ hội để làm nên lịch sử”. Thật vậy, kỹ thuật công nghệ không hoàn toàn tốt và cũng không hoàn toàn xấu, mà hoàn toàn tùy thuộc vào cách sử dụng của con người, chẳng hạn dùng Ipad để đọc kinh phụng vụ, đọc lời Chúa, hoặc nghe thánh lễ qua Radio, mạng Internet và nhất là hiện nay, việc sử dụng máy chiếu trong Thánh lễ đã trở nên rất phổ biến trong các nhà thờ từ nông thôn đến thành thị. Những màn hình tivi đẹp mắt, hấp dẫn đã thay thế dần những chiếc bảng gỗ thô kệch ngày nào.
2. Việc lạm dụng phương tiện kỹ thuật số trong công tác mục vụ và phụng vụ.
Phương tiện truyền thông hiện đại một mặt đem lại cho đời sống con người nhiều thay đổi và tiến bộ, khoảng cách không gian và thời gian được thu hẹp. Mặt khác nó cũng đặt ra cho con người nhiều thách đố. Như đã nói ở trên, những chiếc bảng gỗ trước kia nay đã được thay thế bằng những màn hình tivi đẹp mắt. Sự xuất hiện và hiệu năng của màn hình tivi trong việc phục vụ cho Thánh lễ là cần thiết, nó giúp cho người giáo dân chú ý hơn trong việc đọc kinh chung với cộng đoàn, tiện lợi trong việc tập hát, học hỏi. Tuy nhiên, trình trạng phổ biến hiện nay là ở một số nhà thờ lạm dụng màn hình để trình chiếu quá nhiều thứ, chẳng hạn nhắc nhở việc tắt điện thoại di động, nhắc nhở việc ăn mặc, hoặc lạm dụng chiếu luôn cả những kinh quá quen thuộc như Lạy Cha, Kính Mừng, Kinh Chúa Thánh Thần, Tin, Cậy, Mến. Bỗng một ngày cúp điện không có máy chiếu, mới phát hiện ra một điều: Không ai nhớ kinh để bắt. Điều đáng buồn đối với các em thiếu nhi là tình trạng không thuộc kinh trầm trọng. Lạ lùng hơn là vừa trả bài kinh tuần này, tuần sau trả lại các em chẳng thuộc. Trong khi chúng ta đang hô hào, kêu gọi đọc kinh gia đình trong năm Phúc Âm Hóa Gia Đình, nhưng kinh không thuộc thì làm sao mà đọc?
3. Cẩn thận trước những trào lưu tục hoá khi sử dụng phương tiện kỹ thuật số vào phụng vụ.
Như đã nói ở trên, công nghệ số vừa là phương tiện hiện đại, nhưng cũng là một thách đố cho con người trong việc sử dụng. Do đó, cần phải đặt ra một chuẩn mực rõ ràng trong cho việc sử dụng công nghệ trong Thánh lễ. Thiết nghĩ, để có thể sử dụng các phương tiện công nghệ một cách đúng đắn, chúng ta cần nắm vững đường hướng của Giáo Hội. Trong Hiến Chế Về Phụng Vụ Thánh số 20 nói: "Các công tác truyền thanh và truyền hình về những hoạt động thánh, đặc biệt về việc cử hành Thánh lễ, phải được thận trọng thực hiện cách xứng đáng dưới sự hướng dẫn và bảo lãnh của người đủ khả năng do các Giám Mục ủy thác". Do đó, khi trình chiếu trên màn hình để phục vụ trong Thánh Lễ, nên chăng chúng ta cần cân nhắc và chọn lựa nội dung cần thiết và phù hợp với tính chất thánh thiêng của Thánh lễ. Việc trình chiếu liên tục những câu xướng đáp quá quen thuộc hay những kinh nguyện truyền thống hoặc lồng ghép nhiều hình ảnh sẽ làm giảm đi lòng sốt sắng của người tham dự vì mãi lo nhìn màn hình. Vì thế, cần có sự xét duyệt về nội dung sẽ được trình chiếu trong Thánh lễ, mà bổn phận đó thuộc về các cha sở. Đành rằng, chúng ta có ý tốt là giúp cho người giáo dân tham dự Thánh lễ cách tích cực, giúp cho các em thiếu nhi thuộc kinh, hạn chế việc sử dụng sách hát gây chia trí, nhưng nếu lạm dụng sẽ dẫn đến những kết quả ngược lại.
 4.Lời Kết
Việc sử dụng công nghệ số vừa giúp chúng ta bắt kịp đà tiến của xã hội, nhưng đồng thời nó lại là con dao hai lưỡi nếu chúng ta khai thác triệt để những tiện ích của nó mà không có sự cân nhắc chọn lựa. Thánh lễ là nơi con người gặp gỡ Thiên Chúa, được mời gọi tham dự vào bàn tiệc Nước Trời. Vì thế: "Giáo Hội hằng bận tâm lo cho các Kitô hữu đừng tham dự vào mầu nhiệm đức tin ấy như những khách bàng quan, câm lặng, nhưng nhờ hiểu thấu đáo mầu nhiệm đó qua nghi lễ và kinh nguyện sao cho họ tham dự hoạt động thánh cách ý thức, thành kính và linh động". Giáo Hội, Mẹ chúng ta, đã có những thao thức ấy cho con cái mình, thì chúng ta cũng phải tích cực cộng tác để những thao thức ấy được thành tựu, đừng vì chạy theo những trào lưu mới, những tiện ích của công nghệ số mà làm tục hóa Thánh Lễ và giảm đi lòng sốt sắng cần phải có của người tín hữu khi tham dự thánh lễ.

Nguồn: Sr. Ter.Trúc Băng, WGP.LX

Thứ Hai, 26 tháng 9, 2016

Linh hoạt nhóm cầu nguyện và chia sẻ Lời Chúa cho người trẻ

Cầu nguyện là:
v  Một cách thức đến với người trẻ
v  Giúp thay đổi đời sống của người trẻ
Mục tiêu cầu nguyện và chia sẻ là:
o   Biết về mình
o   Xây dựng tương quan với tha nhân
o   Gần Chúa hơn
Một số yếu tố cần lưu ý:
*      Bối cảnh
*      Tuổi
*      Tình trạng
*      Vd: Tháng 2  – Tình yêu – Chúa
ð  Giúp người trẻ nhận ra nghiền cuốn hút không thể rút ra được
Chủ đề, bản văn kinh thành, cách thức, hồi tâm.
Vd: chủ đề
§  Cần liên hệ tới kinh nghiệm của bản thân
§  Chữa lành
§  Từ bỏ
§  Quảng đại, dấn thân
§  Sự sỡ hãi, sự vinh quang
§  Tình yêu vô điều kiện
Nội dung:
o   Đoạn văn Kinh Thánh
o   Hình ảnh
o   Một bài báo
o   Thiên nhiên
Một số hoạt động:
ü  Vai diễn kịch
ü  Phim, clip ngắn
ü  Trang trí , nghệ thuật => biểu tượng
ü  Trạm cầu nguyện như xe lửa=> đến trạm đắt cau hỏi phản tỉnh
ü  Hình ảnh
ü  Handout câu hỏi mang tính phản tỉnh
ü  Thinh lặng
Xưởng sủa chửa
·         Bức tranh dang dở> cuộc đời khúc mắc
·         Chiếc xe đap> nhìn lại nhìn
·         Đôi giày>Dưng lai và có bao nhiêu những những bước chân sai lầm đổ vở
·         Bình bể> mình mong muốn nhưng vẩn bể ra
ð  Câu hỏi phản tỉnh

Cuối cùng là mọi người chon một biểu tượng và mọi người chia sẻ về biểu tượng của mình

Thứ Ba, 20 tháng 9, 2016

Ngày anh em ra trường


Xin chúc mừng anh em
Năm nay đã tốt nghiệp
Và tiến thêm một bước mới
Trong đời sông tu trì.

Sang một giai đoạn mới
Anh em hãy phó thác
Vì có nhiều vất vả
Và cố gắng vượt qua.

Anh em chuyển bước mới
Cúng là truyền động lực
Cho những người ở lại
Học tập và noi theo.

Em luôn mong anh em
Là những người bước trước
Luôn chỉ dạy cho em
Để biết mình là ai?.

Thôi, xin Chúa chúc lành
Những anh em tuyệt vời
Đời đời đi theo chúa
Để cất tiếng tạ ơn.


Hallelujah

các kiểu cha mẹ và ảnh hưởng đến con cái

kiểu độc đoán

  1. phụ huynh đòi hỏi cao phải thế này thế nọ
  2. không đáp ứng nhu cầu của trẻ
  3. nội quy gắt gao, xử phạt nghiêm hướng về sự vâng phục
  4. cha mẹ hay kể công

=>trẻ ngoan, vâng lời nhưng xếp hạng thấp về hạnh phúc
không đạt được kỳ vọng trẻ bị rối loạn thần kinh=> chai lỳ, độc ác, nổi loạn

kiểu nông chiều

  1. phụ huynh không có kỷ luật với con
  2. sẵn sàng đáp ứng mọi nhu cầu của con

=> xếp hạng thấp về hạnh phúc như về vật chất không biết cho mà chỉ nhận hay ở nhà thì được còn ra xã hội cấm, không có kinh nghiệm về các vấn đề thẩm quyền và có khuynh hướng học kém

kiểu hờ hững

  1. phụ huynh không dành tâm trí cho con
  2. ít đòi hỏi, ít đáp ứng và ít giao tiếp với con
  3. họ thường tách rời cuộc sống của trẻ
  4. trong trường hợp cùng cực cac phụ huynh có thể hắt hủi trẻ

=> xếp hạng thấp trong mọi lĩnh vực, thiếu tự chủ, kém tự tin, năng khiếu ít

kiểu có thẩm quyền

  1. đáp ứng nhu cầu cần thiết và lắng nghe mọi câu hỏi của trẻ
  2. phụ huynh đề ra những đường lối mà trẻ phải tuân theo
  3. khi trẻ không đat được kỳ vọng thì cha mẹ quqan tâm hơn
  4. họ quyết đoán \, nhưng không vi phạm và hạn chế
  5. hình phạt có tính nâng đỡ

=> đưa trẻ đến hạnh phúc có khả năng thành đạt


Cho nên là những ba mẹ và các bâc phụ huynh  không nên thúc đẩy trẻ quá mức cần biết năng lực của trẻ cần kiên quyết (không chịu thua), kiên định(thống nhất) và hợp lý (lời nói và hành động) để nuôi dạy con cho tốt



https://www.youtube.com/watch?v=uwl3gv5ttvA

Câu bé và cô bé

Giá tớ được là con trai
Cô bé có lần đã nói
Tự lâu tớ đã bỏ đi
Sang châu Phi chơi cho khoái!
Còn nếu tớ là con gái
Cậu bé liền đáp lời ngay
Thay cho chỉ màu tớ sẽ
Thêu bằng tia nắng ban mai!
Rồi hai người dần khôn lớn
Cùng nhau nên vợ nên chồng,
Với nhau sáng trưa chiều tối
Họ toàn nói chuyện tiền nong.
p/s. Tiền không mua được hạnh phúc tiền không tốt không xấu tùy cách ta sử dụng.

nguyên nhân dẫn đến những định kiến về giới



hệ thống an sinh xã hội có các chức năng cơ bản sau đây:

Một là, bảo đảm thu nhập ở mức tối thiểu đây là chức năng cơ bản nhất của an sinh xã hội. An sinh xã hội có vai trò cung cấp (có điều kiện hoặc không có điều kiện) mức tối thiểu thu nhập (mức sàn) bảo đảm quyền sống tối thiểu của con người, bao gồm các quyền về ăn, sức khỏe, giáo dục, nhà ở và một số dịch vụ xã hội cơ bản nhằm bảo vệ con người khỏi bị đói nghèo do không có thu nhập tạm thời hoặc vĩnh viễn
Hai là, nâng cao năng lực quản lý rủi ro Nền tảng của đảm bảo an sinh xã hội là quản lý rủi ro5, bao gồm (i) Phòngngừa rủi ro: hỗ trợ người dân chủ động ngăn ngừa rủi ro trong đời sống, sức khỏe, sản xuất kinh doanh và biến động của môi trường tự nhiên; (ii) Giảm thiểu rủi ro: giúp cho người dân có đủ nguồn lực để bù đắp những thiếu hụt về thu nhập do các biến cố trong đời sống, sức khỏe, sản xuất kinh doanh và môi trường tự nhiên và (iii) Khắc phục rủi ro: hỗ trợ kịp thời cho người dân để hạn chế tối đa các tác động không lường trước hoặc vượt quá khả năng kiểm soát do các biến cố trong đời sống, sức khỏe, sản xuất kinh doanh, và môi trường tự nhiên và bảo đảm điều kiện sống tối thiểu của người dân
Ba là, phân phối thu nhậpMột trong những chức năng quan trọng của an sinh xã hội là bảo đảm thu nhập cho những người/nhóm đối tượng khi không có khả năng tạo thu nhập. Các chính sách giảm nghèo, các hình thức trợ giúp xã hội thường xuyên và đột xuất cho các nhóm đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương và phương châm “người trẻ đóng - người già hưởng” trong bảo hiểm xã hội, hay “người khỏe đóng - người ốm hưởng” trong bảo hiểm y tế thể hiện rõ chức năng chia sẻ rủi ro, phân phối lại thu nhập của an sinh xã hội, ngay cả khi phân phối không dựa trên sự đóng góp, mà dựa vào nhu cầu của cá nhân cũng như khả năng bảo đảm của ngân sách nhà nước.

Bốn là, thúc đẩy việc làm bền vững và phát triển thị trường lao độngHệ thống an sinh xã hội thúc đẩy việc làm bền vững, tăng cường kỹ năng và các cơ hội tham gia thị trường lao động cho người lao động thông qua việc: (i) hỗ trợ đào tạo nghề cho người lao động (đặc biệt người nghèo, người nông thôn...), (ii) phát triển thông tin thị trường lao động và dịch vụ việc làm để kết nối cung cầu lao động, giảm thiểu mất cân bằng cung cầu lao động; (iii) hỗ trợ tạo việc làm trực tiếp cho một bộ phận người lao động thông qua các chương trình cho vay vốn tín dụng ưu đãi, chương trình việc làm công và các chương trình thị trường lao động khác; (iv) hỗ trợ chuyển đổi việc làm cho lao động mất đất, lao động di cư, lao động bị tác động bởi khủng hoảng kinh tế.. Năm là, nâng cao hiệu quả quản lý xã hội, thúc đẩy gắn kết xã hội và phát triển xã hội Một hệ thống an sinh xã hội được xây dựng và thực thi có hiệu quả sẽ góp phần quan trọng vào sự phát triển của mỗi quốc gia, cụ thể như sau: - Nâng cao hiệu quả quản lý xã hội- Xóa đói giảm nghèo, giảm bất bình đẳng, thu hẹp chênh lệch về điều kiện sống theo vùng, các nhóm dân cư.- Góp phần tăng trưởng kinh tế và gắn kết xã hội-Hướng tới tương lai tốt đẹp hơn

Chủ Nhật, 18 tháng 9, 2016

Học thêm, dạy thêm

tác giả: Nguyễn Triệu Căn

Học thêm, dạy thêm: đó là công việc bình thường vẫn xảy ra từ xưa đến nay. Một con người muốn tồn tại trong xã hội thì suốt đời phải không ngừng học thêm. Học ở đâu?  học ở thầy, học ở cha mẹ, ở bạn bè, ở sách vở, ở kinh nghiệm sống của mình.
Vì có người muốn học thêm, nên có người đi dạy thêm. Đó là quy luật tự nhiên. Ai cấm nổi việc này.
Lợi ích của học thêm lớn lắm. Ông Nguyễn Kham (1845 – 1885) đỗ cử nhân năm Canh Ngọ (1870), đỗ tiến sĩ năm Tân Mùi (1871) thế mà ông Nguyễn Tư Giản[1] cha của Nguyễn Kham lại có sớ dâng lên Vua Tự Đức “Năm Canh Ngọ niên hiệu Tự Đức năm thứ 23 con thần là Kham một kẻ có trình độ sơ học mà lạm dự Hiền Thư (đỗ cử nhân) đến niên hiệu Tự Đức thứ 24 thì may mắn là trúng thi hội và danh nêu ở giáp bảng ( tiến sĩ ). Sau đó theo lệ thì được bổ nhiệm chức Hàn Lâm Viện Biên Tu và làm việc tại Bộ…
Thần mong bề trên rủ ơn cho Kham về quê nhà hoặc cho Kham được ở chỗ làm việc của thần để đọc sách, để cho sức học của Kham lớn lên cùng với tuổi đời. Khí độ của Kham được rèn giũa nên người thì tương lai có ra tòng chinh dù chưa dám mong y thể hiện tài năng, nhưng cũng có thể không mắc phải lỗi lầm lớn…”.
Đỗ đến tiến sĩ mà cụ Giản vẫn muốn rèn luyện thêm cho con về tri thức và đạo đức. Người ngày nay bảo cụ là gàn dở.
Riêng tôi cũng được hưởng lợi ích của học thêm. Năm 1945 vì nhà ở xa trường quá nên phải nghỉ học, tiếp đó lại đi tản cư, nên việc học dở dang.
May thay  năm 1950 nhờ thầy Nguyễn Hữu Kim giúp đỡ nên lại được cắp sách tới trường. Thầy cho vào học ngay lớp 4, lớp cuối cấp của bậc tiểu học. Nghe thầy giảng toán mà tai tôi ù lên… Hoang mang, hoảng sợ tôi gục mặt xuống bàn khóc nức nở. Cuối buổi học thầy giữ tôi lại hỏi han. Thầy bảo chiều chiều đến nhà thầy để thầy dạy thêm. Một tuần lễ liền chiều học thầy, tối về hỏi bác những điều mà tôi chưa hiểu rõ. Nhờ vậy mà ba tháng sau tôi hoàn thành chương trình tiểu học và vượt qua kỳ thi tốt nghiệp. May quá hồi ấy chưa có sách toán nâng cao của tiểu học. Giá như phải học về dãy số, bài toán vô định , về đếm hình thì chắc chắn tôi gục hẳn.
Ngày nay thấy lũ cháu được đi học thêm mà thèm. Bố mẹ các cháu đưa các cháu đi, đón các cháu về. Cháu chọn học thêm các thầy cô giáo có tiếng của thành phố.
Tôi có một bà bạn, dạy tiểu học, nay đã về hưu. Nghỉ hưu hàng chục năm nay rồi mà chưa một ngày được nghỉ dạy. Các cháu ở khắp nơi, tới học thêm . Chắc chắn các cháu này học thêm không phải là vì điểm, vì bà giáo (gọi là cụ giáo thì đúng hơn) làm gì còn quyền cho điểm.
Việc học thêm và dạy thêm nó hay thế, vậy tại sao dư luận cứ ồn ào?
Có lẽ mục đích dạy thêm, học thêm đã thay đổi. Trò phải đến học cô vì bố mẹ các cháu sợ cô trù úm con mình. Học thêm để có điểm tốt, để được lên lớp. Cô, thầy giáo dạy thêm vì lương nhà nước  không đủ chỉ tiêu cho gia đình. Theo bài báo “ kết quả cuộc khảo sát về các vấn đề kinh tế trong giáo dục phổ thông cuối năm 2007 của tác giả Trần Hữu Quang thì lương chỉ đủ sống trong 20 ngày.
Dạy thêm để có thêm tiền bù vào 10 ngày thiếu ăn cũng đúng thôi! Nó còn có ích hơn đi làm các công việc khác. Tôi còn nhớ những năm 1965 – 1980 đời sống của thầy cô giáo nhếch nhác lắm. Có một cô giáo ngoài giờ lên lớp phải chạy ra chợ buôn bán. Nghe nói cũng kiếm ra tiền. Bữa ăn của gia đình có thêm bát cơm trắng, đĩa cá , đĩa tôm, đĩa thịt. Thế nhưng nhục lắm. Kỳ họp nào cũng bị lôi ra  phê bình: đồ con buôn; làm mất danh dự của nhà giáo. Không chịu nổi sự phê bình của tập thể cô giáo đó bỏ nghề…..cô giận ngành giáo dục đến nỗi lẩn tránh bạn bè, không thèm quay lại trường.
Ngày ấy không ai nghĩ đến dạy thêm để kiếm tiền. Mà có ai nghĩ đến cũng không làm được. Lúc đó nghèo lắm ai có tiền để đi học thêm?
Ngày nay, khác rồi. Thế nhưng mục đích học thêm dạy thêm không thể thay đổi. Học trò yếu đi học thêm để củng cố kiến thức. Học trò giỏi học thêm để nâng cao kiến thức…Người dạy tùy theo trình độ người học mà dạy. Đừng dạy cho trò kém những kiến thức vượt quá chương trình. Đừng dạy trò giỏi những điều tầm thường để chúng dễ chán.
Còn tiền dạy thêm?Nên nghĩ đến nó, nhưng đừng quá chú ý đến nó.  Nghe người ta nói thầy cô giáo dạy tiểu học thu nhập cao hơn giáo sư dạy đại học! Rồi lại có tin đồn có những cô giáo dạy cấp tiểu học đề ra mức phấn đấu mỗi tháng dạy thêm phải đạt 30 triệu. Nghe khó tin, nhưng có lẽ đúng. Tháng 7 vừa qua (dịp nghỉ hè) tôi phải mang 730.000đ đóng học cho cháu nội tôi. Cho là lớp cháu chỉ có 35 học sinh (thực tế phải là 50 học sinh/ lớp) thì thu nhập các tháng hè của cô giáo này đạt 25 triệu/tháng. Có lẽ đấy là thu nhập của tháng hè.
Tôi nói nhiều tới lớp tiểu học. Vì nó có tác dụng rất lớn đến việc hình thành nhân cách con người. Khi trưởng thành, nhắc tới chuyện đi học ai có thể quên được các thầy dậy mình lúc bé? Hãy ghi dấu ấn đậm vào ký ức tuổi thơ của các cháu.         Đừng bao giờ để lại dấu ấn không đẹp để sau này lớn lên các cháu có ý nghĩ không tốt về thầy cô giáo nói riêng và con người nói chung.
Nguyễn Triệu Căn
[1] Hoàng Giáp Nguyễn Tư GiảnCuộc đời và thơ văn” Trung tâm văn hóa Đông Tây (2001) trang 236 – 237

Trẻ có thể học gì ở trường mầm non?

Dẫn nhập
–  Bài này nằm trong phân loại «Chương trình khung» nhưng không mang tính đặc thù của Bỉ hay của châu Âu. Ta có thể xem nội dung dưới đây như những chủ đích mà bất cứ một chương trình của trường mầm non nào cũng có thể (hay cần) hướng tới. Trường hợp của Bỉ ở cuối bài chỉ là một thí dụ.
–  Khởi thủy, trường mầm non của một số nước được gọi là «trường giữ trẻ» – école gardienne – giữ trẻ để mẹ chúng có thể rảnh tay mà đi làm. Ở một vài nước, những trường giữ trẻ đầu tiên là do các xí nghiệp lớn thành lập. Những trường đầu tiên khác là do các nữ tu Công giáo thành lập và đảm trách.
–  Từ từ, vai trò giáo dục của trường mầm non mới được chú ý đến, nhất là sau thế chiến thứ I. Nhưng trường mầm non vẫn chưa vào giáo dục cưỡng bách.
–  Trong những năm 1960, các nhà xã hội học về giáo dục nhận thấy rằng các bé xuất thân từ giai cấp thợ thuyền nhưng đã theo học trường mầm non, vào tiểu học thành công tốt hơn là các cháu cùng hoàn cảnh nhưng không được học mẫu giáo. Vai trò giáo dục và hơn thế nữa, vai trò chống bất bình đẳng ở trường học, của giáo dục mầm non được nhìn nhận từ đó.
Sáu …cái học được ở trường mầm non (1)
Học tự tin ở mình để thoải mái trong thân thể mình, có kỹ năng đối diện với mình, biết trọng bản thể của mình trong tiếp xúc với những trẻ đồng trang lứa, hay với người lớn, trong những hoàn cảnh và ở những môi trường khác nhau. Nói một cách nôm na : bé sẽ không rụt rè bám vào váy mẹ khi rời mái ấm gia đình
Làm sao trường mầm non đạt tới kết quả đó ?
Cũng dễ thôi . Trường phải là nơi các cháu thấy yên ổn, được bảo vệ, một loại gia đình thứ nhì, rộng hơn, nhưng mỗi cháu vẫn được tiếp đón như con cái trong nhà. Các cháu vẫn được quyền tiếp tục sống theo nhanh hay chậm tùy cháu, được nâng đở, được phát biểu ý kiến. Hơn thế nữa, các cô giáo mầm non khuyến khích học trò mình trên đường sáng tạo. Trí tưởng tượng của trẻ rất dồi dào, được khuyến khích đúng lúc đúng nơi, cháu nào cũng có khả năng thành thần đồng hay ít nhất là phát triển trí tuệ.
Học tự lập. Ở trường, không có mẹ bên cạnh, mỗi cô giáo phải lo cho trên dưới 20 trò, dù muốn hay không các cháu phải bươn chải giải quyết những vấn đề cá nhân. Quen bươn chải một mình các cháu sẽ đi tới suy nghĩ một mình và có ý kiến cá nhân. Dĩ nhiên thỉnh thoảng có cháu cũng cần sự giúp đở của người lớn – nếu không thì cô giáo thất nghiệp sao ! Sống trong cộng đồng, cũng có thể giữa bạn bè với nhau, các cháu tương trợ nhau và giúp đở nhau trên con đường học tự lập.
Tự lập và giúp nhau tự lập cũng là cách các cháu học cách sống trong xã hội, sống với người khác và vần tương thân tương trợ với người kháci.
Cô giáo mầm non dạy trẻ tự lập thế nào ?
. cách giản dị nhất là để trẻ tự làm lấy một mình những công việc cá nhân
. phân công và giao cho các cháu những trách nhiệm có giới hạn và tùy theo tuổi hay khả năng của mỗi cháu
. để các cháu chọn lựa việc làm, hát hay vẽ chẳng hạn
. hướng dẫn các cháu bằng cách cho mẫu, chỉ dẫn thể thức,… nhưng không làm thay cho cháu
. khuyến khích các cháu trong việc làm, tiến bộ, dù nhỏ mấy đi nữa
. lắng nghe những khó khăn mà các cháu gặp phải và đồng thời hướng dẫn cháu  tìm hướng tự giải quyết khó khăn
. không phạt khi các cháu thất bại hay làm sai
Học nghe và học nói là bước khởi thủy, tối cần cho cuộc sống. Con người là một con vật biết nói nhưng đồng thời ta sống trong xã hội, ta cần nghe nữa. Nghe là kính trọng người nói. Ở trường mầm non, nói ở đây không chỉ là ngôn ngữ bằng lời một vốn ngôn từ đủ để hiểu người khác (+/- 800 – 1000 chữ – cho các trẻ nói tiếng Pháp) mà còn là khả năng diễn tả và giải mã các ngôn ngữ của cơ thể.
Đồng thời các cháu tập tành để có khả năng làm câu diễn tả những cảm nhận, những ý nghĩ và những gì các cháu cần.
Cái luật cơ bản ở trường có thể là luật «được nói khi đến lượt mình» vì như thế tức là lời nói của mỗi cháu được nghe, được trọng như chính các cháu đã nghe và đã trọng phát biểu của người khác.
Đấy là một tập tành vô cùng hữu ích vì trước đó, trong gia đình, đôi khi các cháu không phải thực thi luật ấy và có quyền «nói leo».
Ở trường mầm non có muôn vàn cơ hội để học nghe và nói. Khi đối thoại với cô giáo và với bạn, khi nghe kể chuyện hay khi chính các cháu kể chuyện, khi các cháu cùng làm việc trong các nhóm nhỏ, khi cha mẹ các cháu nói chuyện với cô giáo, khi các cháu cùng cô xem TV hay xem kịch, xem hát.
Học thiết kế các hiểu biết. Ở nhà thì chỉ quanh quẩn trong bếp với mẹ nhưng ở trường, dù chỉ là trường mầm non, các cháu bắt đầu khám phá thế giới của hiểu biết. Chưa biết đọc nhưng các cháu bắt đầu tiếp cận với sách, nghe đọc và hiểu truyện qua các tranh hình ảnh và màu sắc minh họa. Các cháu bắt đầu khám phá khả năng của ngũ quan và dùng ngũ quan để thu lượm kiến thức : nghe, thấy, ngữi, sờ, nếm và từ đó đếm, xếp loại, so sánh, đánh giá, nhớ, … những phương thức tối cần cho sự học sau này.
Khám phá môi trường để có thể sống và làm chủ môi trường là nội dung của chương trình mầm non. Các cháu quan sát thời tiết, học cách xem giờ, phân biệt bốn mùa, xếp loại các loại hoa quả, các loại lá cây, thú vật, …
Chỉ mới ở mầm non thôi mà kiến thức của các cháu đi những bước bảy dậm …
Học sáng tạo tập tành các cháu khả năng diễn đạt ý tưỡng của mình, những tưỡng tượng, sáng tạo, vẽ, nặn, sơn, múa hát, … với hai bàn tay của mình, với tiếng nói, với thân thể, … Cho các cháu gia nhập vào thế giới phong phú và không có giới hạn của các ý tưởng, kể cả những ý tưỡng xa vời nhất.
Cô giáo ở đó  khuyến khích sáng tạo bằng cách kể cho trò nghe các chuyện thần tiên, các văn hóa xa lạ, cho các cháu tiếp xúc với những dụng cụ khác nhau, những kỹ thuật các loại, với nghệ thuật, nhiều hình thức khác nhau về cái đẹp, cho các cháu thấy là mộng mơ không chỉ là hoang đường.
Được thỏa mản các nhu cầu tình cảm. Điều cuối cùng này các cháu không phải học mà trường mầm non phải bảo đảm cho các cháu.
Thật vậy, dù đã đi học nhưng cháu nào cũng cần được yên ổn, được đón tiếp một cách nồng nhiệt, ở trong một môi trường đầy tín cậy, được săn sóc và có những vòng tay trìu mến ấp ủ.
Trường mầm non là trường «học chơi» chứ chưa «học thật», kỷ luật phải được thay thế bằng tình thương, chú tâm đến sự thoải mái từ vật chất đến tâm sinh lý của trẻ, không áp đặt một thời dụng biểu khắc khe, cho trẻ có nhiều liên hệ có chất lượng với ê-kíp giáo viên và lúc nào cũng chủ tâm chú ý đến hạnh phúc của các cháu
Cụ thể thì như thế nào ?
Với nguyên tắc tự do giáo dục, thí dụ dưới đây là chương trình của một trường dạy 15 năm từ mầm non tới lớp 12 trung học phổ thông. Chương trình mầm non của trường này dựa trên năm trục chính (2):
. Trước nhất là phải làm sao  các cháu có khả năng hành động và «nói hay diễn tả» với thân thể của mình (thể dục, giáo dục phát triển tâm lý và nhịp nhàng cử động)
. Thứ nhì là khám phá vũ trụ môi trường các cháu sống (khoa học, lịch sử, địa lý)
. Thứ ba, học ngôn ngữ như là phương tiện để học (tiếng mẹ, ngoại ngữ và ngôn ngữ của toán)
. Thứ tư, đi sâu vào sự tưỡng tượng, thế giới của sáng tạo và lòng yêu cái đẹp, (dạy nghệ thuật dưới mọi hình thức)
. Thứ năm là học những hiểu biết cần để sống cùng nhau trong xã hội (học về các phương tiện thông tin, máy tính và công dân giáo dục)
Tất cả phải được soạn với những học cụ và phương pháp sư phạm thích hợp với độ tuổi của các cháu. Thông thường là qua những trò chơi, sinh hoạt hát, vẽ, đọc truyện, kể truyện, …
Các môn “học” ở lớp 3 trường mầm non (cho trẻ 5 tuổi)
Phần dưới đây chép lại, với vài thay đổi nhỏ,  từ một bài, cùng tác giả, đã đăng trên Dân Trí (3):
“Dạy viết” ở trường mầm non? Có, ở Bỉ đều có dạy “viết” cho các cháu ở lớp 3 trường mầm non, nhưng không phải viết chữ mà “vẽ hình” (tiếng Pháp gọi là préécriture – hình thức “trước chữ viết”): đường thẳng, đường cong, đường tròn, từ to đến nhỏ, cho đến xếp hàng như một dòng hình gần giống như dòng chữ viết thật. Rất vui – vì vẽ mà, vẽ đủ màu – lại giúp các cháu mềm tay, tới lúc áp dụng vào viết chữ thì các cháu đã sẵn sàng.
“Dạy toán” ở trường mầm non? Cũng có chứ. Một trong những phương pháp của chúng tôi là phương pháp Cuisenaire (tên một nhà giáo người Bỉ – Georges Cuisenaire, 1891-1975) . Với những mẩu gỗ nhỏ, dài ngắn khác nhau, màu sắc khác nhau, các cháu sắp lại để chơi với các khái niệm nhiều ít, dài ngắn thêm bớt … Đấy, các cháu đã sẵn sàng để học toán! Mà chơi với các khúc gỗ thì hứng thú biết bao, y như chơi với Lego!
“Dạy sinh ngữ” cho các cháu cỡ 3-5 tuổi? Cũng có nốt. Một trong những giáo viên của trường là người nói thứ tiếng khác (ở Bỉ thông thường là tiếng Hà Lan, ngôn ngữ thứ hai của chúng tôi vì miền Bắc nước Bỉ nói tiếng đó, hoặc tiếng Anh).
Thế là với giáo viên này, các cháu hát bằng ngoại ngữ, nghe kể chuyện bằng ngoại ngữ và nói bằng ngoại ngữ, vì nếu không thì bà giáo không hiểu gì hết ! Các cháu ý thức rất rõ điều đó và nói ngoại ngữ với bà giáo này thành một phản xạ tự nhiên không cần học. Những ngày đầu các cháu có thể ngơ ngác như “con nai vàng trên lá vàng khô”, nhưng sự tiếp thu sẽ rất nhanh mà bà giáo không cần hét hò hay cho điểm cao thấp!
“Dạy văn” ở tuổi mẫu giáo? Dĩ nhiên rồi. Các nghiên cứu cho biết là vốn ngữ vựng hàng ngày của các bậc cha mẹ thuộc tầng lớp thợ thuyền chỉ có khoảng 800 tiếng, thông thường là các từ cụ thể, không có các khái niệm trừu tượng. Trong khi số này nơi các bậc cha mẹ có trình độ đại học là trên 1500 từ.
Một trong các “sứ mạng” của trường mầm non là xóa bỏ sự bất bình đẳng văn hóa đó: qua các chuyện cô giáo kể, qua ngôn ngữ đối thoại dùng ở trường…các cháu học thêm tiếng mẹ – học qua tiếp xúc chứ không qua bài bản – một cách học nhẹ nhàng lại rất là hiệu quả. Như thế các cháu được “trang bị” để thành công dễ hơn trong sự học tiếp theo, dù thuộc giai cấp xã hội cao hay thấp.
Nhưng tuyệt nhiên không dạy các cháu đọc – phần này nằm trong chương trình lớp 1 – để giáo viên này tự do chọn phương pháp (theo cử động cho 24 chữ cái hay trực tiếp ráp vần đọc và từ từ nhìn mặt chữ sau đó).
Dạy các kiến thức v sinh học, môi trường và nhiu môn khác nữa qua các lớp ngoài trời, các lần viếng thăm các trang trại, đài phát thanh, viện bảo tàng, đi dạo trong rừng …
Tất cả những “môn học” này đều được chuẩn bị đàng hoàng trong giáo án (mục tiêu của tiết “học”, nội dung, phương pháp, kết quả dự trù, tiện lợi và khó khăn phải vượt qua …) của các giáo viên trường mầm non.
Chương trình học mẫu giáo cũng nặng như chương trình … đại học. Cái khác là các cháu hoàn thành chương trình dễ như chơi, mà chơi thật và phần lớn là nhờ công của các giáo viên.
Tựu trung lại, các “môn học” này là các “môn chơi”, các món “khai vị”, để các cháu đi vào “bữa tiệc” học hành khi vào lớp 1.
tác giả: Nguyễn Huỳnh Mai
Chú thích :
(1)            Fédération Wallonie Bruxelles, Organisation de l’enseignement maternel et primaire en Belgique. Circulaire pour l’année scolaire 2012-2013. Bruxelles, Direction Générale de l’Enseignement et de la Recherche Scientifique, 2012 (213 trang).
(2)
(3)

Serge Tisseron và tâm lý giáo dục về các màn hình

tác giả: Nguyễn Huỳnh Mai
Dẫn nhập
Khác với các thế hệ trước, hiện trẻ được sinh ra và lớn lên trong một môi trường với vô vàn loại màn hình (TV, games, Ipad, máy tính, điện thoại di động,…).  Trẻ tiếp cận với màn hình rất sớm nhưng các phương tiện thông tin mới này không phải chỉ cho toàn là lợi ích, nhất là khi nhu cầu phát triển toàn diện của trẻ rất là cần thiết…
Khả năng dùng các màn hình không bẩm sinh. Từng bước, trẻ cần được giải thích để nắm rõ tiện lợi và hiểm nguy  của công cụ này và học cách đối xử để chúng thận trọng, sử dụng có suy nghĩ và làm chủ – chứ không là nạn nhân- của các phương tiện thông tin.
Đối thoại với trẻ bắt đầu từ gia đình. Trường học tiếp tục sau đó để từ từ cho trẻ biết dùng các màn hình, các phương tiện thông tin như máy tính bản, internet, các mạng xã hội, …dùng  với những cẩn mật cần thiết.
Cha mẹ cũng không nên sử dụng màn hình suốt ngày trước mặt trẻ: chúng có khả năng bắt chước rất giỏi và sẽ thành “nghiện màn hình”, như cha mẹ – nếu cha mẹ nghiện. Lúc đó mọi giáo dục sẽ thành vô cùng khó khăn.
Nhiều khoa học gia và nhà giáo đã lên tiếng về màn hình, trong đó có Serge Tisseron.  
Serge Tisseron, người Pháp, sinh năm 1948, là một tâm lý gia, một bác sĩ tâm thần và bác sĩ phân tâm học. Trong đời, ông còn là một người viết sách bằng tranh dù nghề chính của ông là giám đốc nghiên cứu ở Đại học Paris 7. Ông chuyên nghiên cứu về ảnh hưởng của hình ảnh, của các phương tiện thông tin mới, đủ loại, trên trẻ và ông đã viết hơn bốn mươi sách về các chủ đề này. Luật 3-6-9-12 của ông được Viện Hàn Lâm khoa học Pháp dùng như những mấu thời gian mà ta phải lưu ý trong việc dạy trẻ tiếp cận các loại màn hình.
Sơ lược về luật 3-6-9-12 của Serge Tisseron

  1. Không màn hình trước 3 tuổihay ít nhất là tránh tối đa. Trước 3 tuổi trẻ bị lôi cuốn và hấp dẫn bởi màn hình nhưng chúng không tiếp thu được vì trên đó các hình ảnh biến chuyển nhanh quá. Màn hình làm chúng mõi mắt một cách vô ích. Đừng dùng màn hình thay cho cô trông giữ trẻ – thông thường các cháu… rất ngoan khi được đặt trước một phim hoạt hình trên TV –
Như một bác sĩ thần kinh nhiều kinh nghiệm, Serge Tisseron bảo rằng não của trẻ, trước 3 tuổi, còn nhiều vùng chưa được tiếp nối với nhau bởi các dây liên hoàn (synapses). Trẻ cần những sinh hoạt giúp chúng liên kết các vùng thuộc não điều khiển năm giác quan để cấu kết các vùng của não bộ – thí dụ như khi chúng cầm lấy một vật nào đó, đưa lên miệng ngậm, ném vật ấy xuống đất, nghe tiếng động rồi chạy theo nhặt vật ấy : chỉ thế thôi nhưng huy động được cả toàn bộ não và tay chân. Màn hình  không giúp trẻ phát triển như thế. Màn hình không cho trẻ những sinh hoạt mà chúng cần, ở tuổi của chúng.
Theo các quảng cáo, các máy tính mang đến những hình ảnh sinh động giúp trẻ “thông minh hơn”. Nhưng kết quả các nghiên cứu hoàn toàn  trái ngược. Trẻ có thể theo dỏi một truyện kể trên màn hình. Nhưng chúng hoàn toàn thụ động. Trong khi nghe mẹ (hay cô giáo) kể, với một quyển sách trên tay, trẻ có thể thấy sự sống động của mẹ, có thể lật với mẹ các trang sách và trao đổi phản ứng với mẹ, …
  1. Không chơi games trước 6 tuổi. Ngay cả khi những nhà sản xuất games quảng cáo hết mình về những trò chơi của tuổi mẫu giáo – họ biết là tạo thói quen sớm thì trẻ sẽ thành những người tiêu dùng trung thành trong nhiều năm – Nhưng không nên cho trẻ chơi games vì những trò chơi này có sức lôi cuốn rất lớn, trẻ chưa đủ miễn nhiểm hay suy luận để rời màn hình cho những sinh hoạt khác – những sinh hoạt tối cần thiết cho trẻ ở độ tuổi này: chúng rất cần phát triển thể hình, vận động, khám phá ngôn ngữ và cảm giác. Chơi games thường là chơi một mình, không giúp trẻ tập tành liên hệ xã hội. Đó là chưa nói tới hiện thời trên thị trường, có rất nhiều trò chơi không thích hợp với chúng.
Đi vào chi tiết, Serge Tisseron bảo rằng ở độ tuổi này, từ 3 đến 6, trẻ cần các trò chơi thuộc hai dạng khác nhau – vừa cảm giác / hành động vừa kể chuyện – để cùng lúc phát triển tâm lý – thể hình và làm giàu vốn ngôn ngữ. Các games không giúp hoàn thành hai vai trò đó.
Trên TV, Serge Tisseron đã đếm thấy rằng hơn 80% các chương trình dành cho trẻ dưới 6 tuổi  thật ra là không thích hợp cho độ tuổi của chúng. Nhất là không thích hợp với tâm lý của trẻ.
  1. Không Internet trước 9 tuổi, và Internet có hướng dẫn cho tới khi trẻ vào trung học, lớp 6 – tức là 12 tuổi.
6 tới 9 tuổi là tuổi của những năm đầu tiểu học, là lúc trẻ đủ khả năng tiếp cận tri thức của trường học, tập đọc, tập viết, tập làm các phép tính căn bản. Đủ khả năng để chăm chú, đủ kiên nhẫn để làm xong một công việc được giao, biết sáng chế ra giải pháp để giải quyết các vấn đề khi gặp khó khăn. Chơi games ở tuổi này có thể giúp trẻ phát triển thêm các khả năng vừa kể trên –  kiên nhẫn, sáng tạo, giải quyết vấn đề, …-
Nhưng cũng cần chọn cho chúng những games hợp với tuổi của chúng và tránh tiếp xúc với bạo lực.
Theo Serge Tisseron, cũng chỉ nên tặng trẻ cái điện thoại di động đầu tiên sớm nhất là khi chúng tròn  9 tuổi, với những dặn dò về trách nhiệm của chúng trong cách dùng phương tiện thông tin và liên hệ xã hội này.
Không Internet trước 9 tuổi vì trên mạng cái tốt và cái xấu lẫn lộn, đồng thời hiện hữu mà trẻ thì chưa có khả năng phân biệt biệt được – trừ phi là cha mẹ tiếp tục dìu dắt chúng trên internet hay cài phần mềm giới hạn tiếp cận cho trẻ, một loại hàng rào ngăn những phần cấm địa.
Ngay tới sau  9 tuổi, trẻ cũng còn cần sự hướng đẫn của cha mẹ khi tiếp cận với Internet. Hướng dẫn của người lớn cần để tránh cho trẻ tiếp cận những hình ảnh không thích hợp với độ tuổi và tránh cho chúng những sinh hoạt, trên mạng, có hại cho chính bản thân chúng – đưa đời tư lên facebook chẳng hạn – vì chúng chưa ý thức được rõ ràng cái nào là riêng tư, cái nào là thật, là giả.
9 tới 12 tuổi còn là tuổi của các nhóm bạn, bị ảnh hưởng của bạn. Tiêm nhiểm bạo lực cũng nhiều nhất ở  thời điểm này.  Các games không thích hợp có thể đưa đường dẫn lối cho trẻ đến những cách cư xử đầy bạo hành.
  1. Internet một mình từ 12 tuổi, khi trẻ đã thấm nhuần những cẩn mật cần thiết, biết tôn trọng thời dụng biểu và biết lúc rời internet cho những sinh hoạt khác,… Tức là lúc chúng đủ khả năng quyết định và tổ chức sinh hoạt của mình. Biết giờ phải đi ngủ hay giờ phải dành cho việc học. Cha mẹ vẫn còn phải sàng lọc những địa chỉ cấm kỵ (các sites về sex hay các trò chơi may rủi chẳng hạn) và vẫn còn phải dùng những phương tiện phần mềm làm rào cản.
  1. Luật «3-6-9-12» tổng quát, cần nhưng chưa đủ. Để “thi hành” luật này, đối thoại giữa cha mẹ và trẻ, giữa các nhà giáo và học trò, … vô cùng quan trọng. Luật có thể co giản ít nhiều tùy trường hợp. Nhưng quỹ thời gian cho trẻ phải có giới hạn rõ ràng. Cở 3 tới 5 tuổi chẳng hạn, một giờ mỗi ngày trước màn hình là giới hạn cần thiết. Ở tuổi này chúng bắt đầu có khả năng hiểu được những kỹ thuật sản xuất thông tin, chúng bắt đầu biết phân biệt cái đùa, cái nghiêm chỉnh, và hiểu được những giới hạn đặt ra bởi cha mẹ. Màn hình khác đời thường, … Cha mẹ ở đó để giải thích cho chúng về những vấn đề này.
.
Trẻ từ 3 tuổi biết là không được nhận kẹo hay đi theo một người lạ. Tức là chúng  có khả năng hiểu rằng những gì trên màn hình không hẳn là sự thật.
.
Trong tất cả mọi trường hợp, ngay cả sau 12 tuổi, cha mẹ và các nhà giáo nên thường xuyên bảo trẻ rằng:
  1. tất cả những gì chúng cho lên internet ai cũng có thể đọc được ;
  2. tất cả những gì cho lên internet sẽ vĩnh viễn ở đấy ;
  3. phải thận trọng kiểm soát vì tất cả những gì chúng tìm thấy trên internet hay trên TV không hẳn đều là đúng, không hẳn là sự thật.
.
Đồng thời, bàng bạc qua các phân tích, Serge Tisseron  tiếp tục nhắc đến sự cần thiết, cho trẻ, tiếp cận với sách.
.
Sách, màn hình và bốn cuộc cách mạng  theo Serge Tisseron

Màn hình là một cấu thành của cuộc sống hiện thời. Có thể giới trẻ xem màn hình như một hiện tượng tự nhiên. Thật ra, màn hình đã đảo lộn nhiêu cấu trúc và sinh hoạt của xã hội. Ta đã đi từ văn hóa truyền khẩu, đã sống khoảng hơn 25 thế kỷ với chữ viết rồi với sách. Màn hình, trước nhất là xi nê, rồi tới TV và sau cùng máy tính và điện thoại di động, … mới xuất hiện  từ  chưa đầy 130 năm.  Serge Tisseron nhấn mạnh đến các cuộc cách mạng mà màn hình đã mang tới.

Văn hóa sách khác văn hóa màn hình
Thời tiền sử, bên ta thì có văn hóa truyền khẩu, bên Tây, đó là những tượng đài, hình vẽ, trong đó có cả hình ảnh của tôn giáo. Người xưa kể chuyện, thêu dệt chung quanh kinh nghiệm sống, trí nhớ hay vài hình ảnh đơn giản. Tất cả những truyện truyền khẩu này thường thay đổi tùy người kể, tùy hoàn cảnh, tùy vùng miền. Ta có câu “tam sao thất bổn”.
Sau đó với chữ viết, rồi nhà in, sách ra đời. Các chuyện kể thành bất biến  vì rành rành trên giấy trắng mực đen. Sách thành một loại của quí, vốn hiểu biết tối thượng của văn hóa. Thư viện là nơi tồn trử hiểu biết của nhân loại, tủ sách là thước đo mức … thâm sâu bác học của chủ nhà.
Sự ra đời của màn hình  cũng đã theo một quá trình phức tạp.
Phim ảnh trước nhất. Khởi thủy phim ảnh dựa trên sách, phải có cốt truyện mới làm nên phim. Phim lúc đó chỉ  để minh họa, bằng một loại ngôn ngữ dễ tiếp cận hơn cho tất cả mọi người, kể cả và nhất là những người không biết đọc hay không có khả năng/can đảm đọc trong nhiều ngày một truyện dài. Màn hình đưa các thông điệp đến một quần chúng rộng hơn.
Truyền hình sau đó, rồi internet, internet cả trên điện thoại di động. Màn hình xâm nhập vào đời sống của mỗi người ở mọi nơi. Hiện thời, khó có thể tổ chức liên hệ xã hội mà không kể tới màn hình.
Trường học, từ cấu trúc, sinh hoạt, chương trình giáo khoa, liên hệ thầy-trò, … cũng bị ảnh hưởng bởi màn hình.
Serge Tisseron bàn đến bốn cuộc cách mạng mà màn hình mang lại.
Màn hình và bốn cuộc cách mạng cùng một lúc

Nói tới màn hình, nhiều người nghĩ ngay cái vật thể phát tiếng và phát hình. Thật sự, màn hình, trong bản chất, làm thay đổi nhiều điều trên đời và trong xã hội, một xã hội vốn đã có nhiều an bài với sách.
Cách mạng về sự liên hệ với tri thức

Sách là văn hóa số ít, của một người. Một người đọc một quyển sách và tiếp thu nội dung của quyển sách ấy một mình – một việc làm cô đơn.
Hiện tượng đọc sách là một thao tác đơn lẻ, là  việc làm của một người. Trong liên hệ với sách ta thấy rõ ràng đó là liên hệ chiều thẳng đứng : một người viết sách và nội dung đó được đọc, mỗi lần, bởi một người khác. Một sự chuyển giao ở số ít.
Văn hóa màn hình là văn hóa số nhiều.
Khởi đầu là phim ảnh. Phim ảnh cần nhiều người thực hiện một phim, cho nhiều người tiếp cận. Trong đó, ta phải kể những người thực hiện điều khiển quay phim, những nghệ sĩ đóng vai, người sản xuất phim để rồi mang ra chiếu cho quảng đại quần chúng xem phim.
Ngay tới màn hình TV cũng là vật tập trung sự chú ý của nhiều người mà thí dụ dễ hiểu nhất là cảnh chung quanh một cái TV  là cả một gia đình im lặng, chăm chú nhìn, nghe…
Từ từ, các trò chơi truyền hình, các phim truyền hình thực tế, … cũng được nhiều người tham dự, trên màn hình cũng như trước màn hình.
Còn nói chi tới internet: cả thế giới thành một làng với màn hình máy tính làm trung gian.
Wikipedia trên internet là một thí dụ điển hình: Wikipedia được đóng góp bởi rất nhiều người và được tham khảo bởi công chúng,  trong đó có cả những tác giả   đã góp phần làm ra Wikipedia, một cách vô danh.
Tóm lại, liên hệ với tri thức thành dễ dàng hơn và  là những liên hệ vô danh – tôi không là độc giả hay học trò của X, Y –  .
.
Cách mạng trong giáo dục, với sự học
Văn hóa của sách là văn hóa thẳng. Từ hàng đầu cho đến hàng cuối. Từ trang một cho đến trang chót. Mỗi chuyện được bố cục có đầu, có đuôi, có chuyện xãy ra trước đến chuyện sau. Văn hóa sách là văn hóa theo chiều thời gian. Phải đọc phần trước mới có thể hiểu phần sau…
Với màn hình, ta có thể bị lôi cuốn bởi  các ảnh nhảy múa trước mắt mà không cần biết đầu biết đuôi. Một đứa trẻ chưa biết đọc cũng có khả năng “chơi” màn hình. Chữ “chơi” ở đây thể hiện đúng hành vi của người tiếp cận màn hình. Dùng thông tin, dùng trí nhớ làm việc  (mémoire de travail) hay trí nhớ tức thời chứ  không cần trí nhớ lâu (mémoire à long terme) vì chỉ cần một thao tác nhỏ là màn hình sẽ  trực tiếp cung cấp tất cả thông tin hữu dụng.
“Văn hóa” màn hình, từ việc tra khảo trên internet đến các trò chơi games trên mạng, … là văn hóa zapping, tức là ấn chuột tùy hứng, đi từ …đông đi tây, bất kể giờ giấc, thứ tự trước sau hay trên dưới, …
Màn hình vì thế không giúp  ta phát triển khả năng về thời gian, phát triển trí nhớ nhất là  trí nhớ lâu dài.
Hay là trí nhớ lâu dài thành vô ích, không cần thiết ?
Trong tất cả mọi trường hợp, vai trò truyền hiểu biết của thầy giáo ở trường cần được định hướng lại.
Trò, khi quen với việc tra cập internet sẽ khó mà tiếp tục giam mình trong lớp học, khó chấp nhận liên hệ quyền lực giữa thầy và trò, trong một khoảng thời gian dài của lớp học, …
Màn hình và  cách mạng tâm lý
Ngay tới cách và quá trình cấu tạo bản thể cũng khác từ ngày có games và có internet. Ngày xưa, cái “tôi” của mỗi một trong chúng ta là một “sở hữu riêng”, dấu kín và mỗi cá nhân có khả năng điều khiển được những định nghĩa về mình .
Ngày nay, cái tôi được phơi bài trên các mạng xã hội. Hơn thế nữa, cả làng internet đổ xô vào thâm nhập cái tôi đó mà nhiều khi “khổ chủ” không kiểm soát được. Những bản thể riêng đã thành món phơi bày dưới thanh thiên bạch nhật.
Hơn nữa, cái “tôi”, lại thường là cái tôi ở số nhiều – như trong một vở tuồng, ta sắm nhiều vai, như mỗi khi trẻ chơi một game mới và nhập vai vào một diễn viên khác.
Trong cái văn hóa tin học mới này, người “giỏi” là người giữ được khả năng nói về những cái “tôi” của mình, dĩ nhiên rồi, nhưng đồng thời người “giỏi” là người làm chủ được được những thông tin về cái tôi của mình, biết chi tiết nào phơi bày được và phần nào thì phải bảo vệ riêng tư.  Để phòng ngừa rủi ro trở thành nạn nhân của thông tin này.
Dạy trẻ là dạy chúng khả năng dùng các “cửa sổ” của màn hình và biết quyết định  đóng hay mở các cửa sổ đó  đúng cách, đúng lúc.
Cách mạng trong các liên hệ xã hội
Liên hệ xã hội thông thường được định nghĩa, tới bây giờ, như một liên hệ đa diện, có thể đi từ nhiều khía cạnh như huyết thống, tình cảm, gần gũi địa lý, có chung những sở thích hay ý tưởng, …
Trên internet, chỉ cần một điểm chung là có thể làm “bạn” với nhau. Không cần sâu đậm tình cảm hay gần gũi địa lý. Mọi biên giới như biên giới tuổi tác, khác biệt giới tính, vai trò và địa vị xã hội gần như không còn nữa.  Vì các nhóm trên internet là những nhóm mà liên hệ giữa các thành viên là một liên hệ không có tổ chức. Các thành viên không cần ý thức nhóm (sentiment d’appartenance) nhưng họ cần được thừa nhận (recherche d’aprobation de soi). Trong chừng mực nào đó, các nhóm trên mạng trả lời được nhu cầu liên kết xã hội của cá nhân.
Nhưng thật ra, cá nhân vẫn …cô đơn. Thí dụ khôi hài ta vẫn thường kể là dù X có cả nghìn bạn trên facebook, lúc X cần dọn nhà, không một bạn nào đến giúp anh hay chị ta…
Viện Nhi đồng Mỹ cũng như Serge Tisseron khuyên là làm sao giới hạn cho trẻ  dùng màn hình tối đa khoảng hai giờ mỗi ngày.
Theo một khảo sát ở Mỹ, năm 2013, trẻ ở độ tuổi  8-18  dùng  màn hình và mạng xã hội đến hơn 7 giờ mỗi ngày – một hiện tượng với những hậu quả nặng: béo phì, bệnh mắt, thiếu ngủ – tức là có hại cho trí nhớ – học hành kém đi, và nhất là mất liên hệ xã hội trong đời sống hàng ngày trong đó đi đầu là liên hệ với các thành viên khác trong gia đình…
Sách và màn hình, mỗi phương tiện thông tin, bắt ta phải sinh hoạt não bộ và ảnh hưởng tới tâm lý ta khác nhau, Serge Tisseron kết luận rằng ta cần cả hai, sách và màn hình, vì chúng bổ sung lẫn nhau. Ta có thể đi nhanh hơn và đi xa hơn khi dùng cả hai, cứ y như ta đi với hai chân của ta chứ không nhảy lò cò trên một chân.
Sách giúp ta biết về quá khứ, tiếp cận với hiện tại và chuẩn bị cho tương lai. Đọc sách có thể cho ta thêm khả năng hiểu và thương đồng loại. Trong khi đó, văn hóa màn hình, nhất là các games, có thể giúp ta đối diện với những bất ngờ của tương lai và giúp ta khả năng thay đổi cách nhìn hay cách sống ở đời.
Tách riêng ra, sách hay màn hình, một mình, đều tiềm ẩn nhiều …hiểm nguy cho người tiếp cận.
Sách kén người đọc, sách chậm trể trước các phát minh mới, sách có khi bắt học trò học thuộc lòng, sách có biên giới, …
Màn hình, nhất là internet, “tiến bộ” hơn sách ở những điểm tiêu cực vừa nêu trên của sách nhưng  văn hóa zapping không rèn học trò những đặc tính như tìm tòi và kiên nhẫn. Với internet, nhiều trò có thể biết mà không cần hiểu. Sự lệ thuộc màn hình có những hậu quả cho việc phát triển trí tuệ và thể hình của trẻ và cuối cùng, màn hình không giúp mọi người liên hệ tốt hơn trong xã hội.
Nhưng từ từ, hai văn hóa, văn hóa sách và văn hóa màn hình, tiếp sức cùng nhau, hòa hợp với nhau : ta đọc sách trên máy tính bảng, ta dùng các mạng xã hội để “quản lý” cuộc sống của mình, không cần phải bỏ công ghi chép hết các sự kiện hàng ngày, ta mang tới và chia sẻ với tha nhân dễ dàng hơn các kết quả của sáng tạo cá nhân, không còn phải lệ thuộc một nhà xuất bản hay một nhà phát hành sách.
Cái cần, cũng như trong tất cả mọi việc, là biết cách dùng sách cũng như biết cách dùng các màn hình – dùng đúng cách, đúng liều và đúng lúc.

Đề nghị của Serge Tisseron để trường học đối mặt với cách mạng tin học
Khi đề cập đến vấn đề này, nhiều người quản lý giáo dục nghĩ ngay tới việc phải lo mua thiết bị cho trường lớp. Dĩ nhiên cần thiết bị nhưng “cái áo không làm nên nhà tu”. Trước cách mạng tin học, cái  phải nghĩ đến là những thay đổi mà trường học cần làm để thích ứng với hoàn cảnh mới, nhất là phải chuẩn bị cho học trò – càng sớm càng tốt – chứ không phải vội đi mua thiết bị.
Trong tương lai, kỹ năng cần cho học trò lúc ra trường sẽ không là khả năng ghi nhớ, nằm lòng một cái gì để tái tạo lại những qui trình đã học ở trường.
Tái tạo, người máy – robot – có khả năng đó sau khi được lập trình. Robot sẽ làm tốt hơn, nhanh hơn, lại không mệt như con người. Thế nên con người ở đó để làm những việc cần sáng tạo, những việc phức tạp mà không thể lập trình trước. Vai trò của ta là lo liên hệ với người khác, giám sát điều hành mọi thứ, trong đó có việc tổ chức việc làm cho robot.
Thế có nghĩa là trường học phải suy nghĩ tới những thay đổi cần thiết để dùng màn hình trong việc dạy học và để tiếp tục đào tạo học trò một cách thích hợp cho hoàn cảnh xã hội tương lai. Tức là để thích ứng, phải thay đổi từ  triết lý, chủ đích của giáo dục, tới chương trình và phương pháp sư phạm.
Ở đây, Serge Tisseron  không có ý định làm một cuộc cách mạng giáo dục. Ông chấp nhận rằng trường học là nơi để trẻ học sống với người khác, để phát triển, để  hạnh phúc. Với màn hình thêm vào, như một cấu thành không tránh được, ông có vài đề nghị rất cụ thể về sư phạm.
  1. Làm việc nhóm và lớp học đảo ngược
Tìm kiếm tra cứu trên máy tính thường là một việc làm cá nhân. Giáo viên có thể ở đó để khuyến khích các trò làm việc cùng nhau, phân công nhau, không phải trong lô gic tranh đua mà trong lô gic hợp tác
Lớp đảo ngược là từ mà Serge Tisseron dùng để chỉ cách tổ chức sự học chung quanh những tranh luận, phản biện. Phương thức này rất dễ thực hiện với các màn hình và với internet vì trên mạng, tất cả những ý khác chiều đều hiện hữu, cái cần là phải biết đúc kết lại và bố cục sự hiểu biết một cách khoa học. Thao tác này giúp trẻ tích cực học, biết tiếp cận, biết suy luận, biết phê bình và cuối cùng , với sự giúp sức của thầy hay cô, tạo kiến trúc cho hiểu biết trước khi tiếp thu.
Màn hình không chỉ là minh họa cho bài học của thầy dễ hiểu hơn. Màn hình còn là một công cụ để trò thêm sáng tạo. Chúng có thể, rất sớm, khám phá và phát triển những  kỹ năng ngôn ngữ của hình ảnh màu sắc, song song với ngôn từ. Nhất là khi những kỹ năng này được tổ chức qua các công việc của nhóm. Như thế là tận dụng tin học để học một cách tích cực, để sáng tạo, để tổ chức và để liên hệ với bạn đồng song.
Ở đây là trò học chứ không phải là thầy dạy.  Đề nghị này không mới, Cái mới là chính trò dùng màn hình và những phương tiện tin học như công cụ để trình bày minh họa các sáng tạo của mình trong quá trình đi tới tri thức.
  1. Học lập trình. Hiện máy và robot là “những bạn đồng hành” của con người và giúp ta trong những công việc nặng nhọc hay nhàm chán. Trẻ cần được khai tâm, sớm chừng nào tốt chừng ấy, với ngôn ngữ lập trình để chúng tường tận cấu trúc và sinh hoạt của máy móc. Đó là điều kiện tiên khởi để chúng có khả năng, sau này, thay đổi hay hoàn thiện các máy móc (phần cứng) hay các chương trình tin học (phần mềm).
Trong dấu ngoặc, một thí dụ nhỏ, hiện ở lớp một, trẻ không phải học viết chữ cho đều đặn. Học trò lớp một tự do viết thế nào tùy trò, chữ in hay chữ thường, miễn là đọc được là đủ. Lý do rất giản dị: sau này, trong vài năm nữa chúng sẽ dùng bàn phím máy tính. Chữ đẹp không còn là một chủ đích của trường tiểu học.
  1. Dùng màn hình để trẻ đi tìm bản thể của mình. Tuổi ở trường mẫu giáo và trường tiểu học là lúc trẻ đi tìm định nghĩa về bản thể của mình. Màn hình là một công cụ tích cực để chúng “nhìn” thấy được những “mẫu người” khác nhau – qua các truyện kể, qua các vai trong trò chơi kịch, … Trẻ cũng có thể tự sáng chế ra nhiều nhân vật khác nhau, tự vào vai hay bảo vệ các nhân vật ấy. Giáo viên có thể quay phim rồi chiếu lại cho chúng xem. Chơi, vào vai rồi khi nhìn chính mình đóng kịch, trẻ sẽ tự nhận thức được cái nào “ổn” và cái nào “không ồn” để tự định hướng.
Đấy là cách dùng một cách tích cực màn hình – chính trẻ là diễn viên của các “phim” –  Màn hình thành một công cụ của của giáo dục làm người, một công cụ rất lôi cuốn – như một trò chơi – nhưng vô cùng thâm sâu.
Nói chung, với các màn hình và với cách mạng tin học, trường phải làm sao khuyến khích những sinh hoạt sáng tạo trong cộng đồng lớp học để cho  trẻ vừa tự phát triển vừa học sống với người khác – vai trò mở mang kiến thức và vai trò xã hội hóa trẻ –
Hai chữ chính là sáng tạo và xã hội. Vì nếu không trẻ sẽ “tiêu thụ” màn hình một cách thụ động và tiêu thụ một mình.



Tạm kết luận
Đối với trẻ, cha mẹ ở nhà phải suy nghĩ đến sự cần thiết cho con cái tiếp cận với màn hình, theo những thời điểm tốt nhất. Đối thoại với con để chúng dùng màn hình đúng cách, đúng lúc. Đồng thời cũng cần biết những khả năng và giới hạn của màn hình nói chung và internet nói riêng để dạy con một cách toàn diện – biết “sở trường và sở đoản” của màn hình để khai thác các điểm cộng và bù đắp các khiếm khuyết –
Trường học, từ lớp mẫu giáo, cần khuyến khích trẻ nói về – tức là diễn tả ra bằng lời – những gì chúng tiếp cận được trên màn hình – để cho sự tiếp cận này thành tiếp cận có hướng dẫn và có đào sâu. Để màn hình không còn giới hạn trong nghe-nhìn mà còn là bước đầu của đối thoại, của phát triển ngôn từ… Như thế, trường học khai thác những lợi ích của màn hình mang lại đồng thời bổ sung những vai trò mà màn hình không thể làm tròn (như phát triển cá thể, trí nhớ dài lâu, lý luận,…).
Trong đường hướng đó, gia đình và trường học đồng hành trong việc dùng một cách tích cực màn hình để giáo dục trẻ.
Nguyễn Huỳnh Mai
.
Tài liệu tham khảo

. L’enfant et les écrans – Avis de l’Académie des Sciences. Trình bày bởi Bach J.-Fr., Houdé O., Léna P. và Tisseron S. NXB Les Pommiers, 2013.
. Tisseron S., Les dangers de la télé pour les bébés.  NXB Eres, 2009.
. Tisseron S. và Gravillon I., Qui a peur des jeux vidéo? NXB Albin Michel, 2008.
. Tisseron S., 3-6-9-12. Apprivoiser les écrans et grandir. NXB Erès, 2013.
. Tisseron S., Les enseignants, les enfants et les écrans: quelle école pour demain?
In Didactiques en pratique. Université de Liège, CIFEN (2015), n°1, tr. 9-17.
. Serge Tisseron cũng có một blog cá nhân với nhiều bài viết hữu ích: