Thứ Năm, 27 tháng 4, 2017

Ô sin và gia sư, hai thứ góp phần làm hỏng con cái

Người thầy không đạt chuẩn sẽ làm “vẩn đục” tâm hồn học trò. Dạy con khó lắm! Gia sư và ô sin đang góp phần làm “hỏng” con cái trong các gia đình thành phố hiện đại…
Đó là quan điểm của PGS.TS Văn Như Cương - Hiệu trưởng Trường THPT Dân lập Lương Thế Vinh (Hà Nội) khi ông chia sẻ với Báo Giáo dục Việt Nam xung quanh vấn đề dạy con và vai trò hình tượng người giáo viên với thế hệ học sinh thời @.
PGS. TS Văn Như Cương, Hiệu trưởng Trường THPT Dân lập Lương Thế Vinh
- Thưa PGS.TS Văn Như Cương, ông nghĩ gì khi gần đây báo chí liên tiếp đăng tải những vụ việc học sinh tự tử?

PGS. TS Văn Như Cương: Tôi thấy rất choáng! Rất lo lắng và rất buồn!

- Với cương vị là một người thầy gần gũi với học sinh mấy chục năm nay, ông có thể giải mã đôi chút về hiện tượng học sinh tự tử?

PGS. TS Văn Như Cương: Học sinh tự tử, nếu xét về mặt pháp luật thì không ai có tội, nhưng về mặt con người thì rất nhiều người đang có lỗi. Cái lỗi lớn nhất thuộc về gia đình học sinh. Lỗi kế đến là của nhà trường. Và cuối cùng mới là lỗi của các em học sinh.
Gia đình hy vọng vào con nhiều quá! Trước những thất bại đầu đời của con đã đổ dồn vào mắng mỏ, nhiếc móc chúng. Nhiều ông bố, bà mẹ không ngừng đầu tư kinh tế với hy vọng con mình sẽ là người giỏi nhất, nổi bật nhất, sẵn sàng đưa con đi bệnh viện nọ, phòng khám kia khi con mới chỉ có một chút mệt mỏi về thể xác. Thế nhưng, họ lại không nhìn thấy và không chữa cho con mình những u uất, tổn thương về mặt tinh thần, tình cảm… đang tích tụ phát triển thành những chứng bệnh nặng khó chữa, khó cứu.

Khi trẻ gặp phải những khó khăn, thất bại đầu đời, chúng cảm thấy mất niềm tin, thất vọng, chán nản, dễ bị đẩy đến chân tường của sự cô đơn, cô độc. Những lúc như thế, trẻ luôn cần đến sự âu yếm, yêu thương, chia sẻ, tư vấn của bố, của mẹ. Nhưng không phải bố, mẹ nào cũng nhận thức được điều đó.

Trẻ bây giờ tự trọng hơn rất nhiều. Cái tôi của chúng cũng lớn lắm! Chỉ cần một lời nói có phần quá đáng của người lớn cũng có thể khiến chúng bị tổn thương lòng tự ái và dẫn đến có những hành động thiếu suy nghĩ…

Nhà trường mới chỉ tập trung vào việc dạy kiến thức cho học sinh. Áp lực học tập nặng nề ngay từ bậc tiểu học. Nhà trường chưa có bộ phận tư vấn về mặt tâm lý cho học sinh.

Giáo viên chủ nhiệm mới chỉ dừng lại ở việc quản lý lớp, đảm bảo trật tự, kỷ cương cho lớp học mà chưa có sự sâu sát với từng học sinh. Những biến động tâm lý, những khó khăn học sinh gặp phải giáo viên chủ nhiệm không nắm được, không có sự điều chỉnh, can thiệp sớm.

Một bộ phận giáo viên thiếu tính chuẩn mực, kỹ năng sư phạm, văng tục, chửi bới, sỉ vả học sinh khiến các em sợ thầy, cô giáo, sợ đến lớp, sợ việc đi học… và có những hành động bồng bột.

Còn lỗi của học sinh là sự nhạy cảm, dễ tổn thương, thiếu những kỹ năng ứng xử xã hội trong quá trình trưởng thành…

- Vừa rồi ông có nói đến hình tượng chuẩn mực của người thầy. Theo ông, hình mẫu của người giáo viên trên bục giảng quan trọng thế nào và sẽ có tác động đến học sinh ra sao?

PGS. TS Văn Như Cương: Hình mẫu người giáo viên vô cùng quan trọng. Từ thời phong kiến, bao cấp… và cho đến xã hội hiện đại ngày nay, giáo viên luôn phải là tấm gương sáng với học trò.

Thầy nói bậy, văng tục, chửi mắng, đánh đập học sinh là những điều không thể chấp nhận được. Người thầy như thế là một tấm gương xấu, làm “vẩn đục” tâm hồn, nhận thức của học trò. Những kiến thức được truyền đạt từ một người thầy như thế không có tác dụng giáo dục, bởi họ không xứng đáng làm thầy. Một khi đã không xứng đáng làm thầy thì việc dạy bảo cho học trò không còn sự chuẩn mực nữa, mà bừa phứa, tùy tiện...

- Thưa PGS.TS Văn Như Cương! Có thể gọi một bộ phận những giáo viên như vậy là những “hạt sạn” trong nền giáo dục. Theo ông, những "hạt sạn" ấy hiện nay có nhiều hay không?

PGS.TS Văn Như Cương: Để chính xác thì cần có một điều tra xã hội học cụ thể. Tuy nhiên, cá nhân tôi có cảm giác rằng, ngày càng có nhiều hơn những hạt sạn như vậy trong nền giáo dục quốc dân.

- Xin hỏi riêng cá nhân PGS. TS Văn Như Cương, trong cuộc đời dạy học của mình đã bao giờ ông vì bực quá với học sinh mà văng tục, mắng mỏ và giơ tay đánh học sinh của mình hay chưa?

PGS.TS Văn Như Cương: Không bao giờ! Tôi luôn có một suy nghĩ thế này, đã được người khác gọi là thầy, mình phải hành xử sao cho xứng. Tôi không thấy “ngượng” khi người khác gọi tôi là thầy.

- Như ông đã nói, trẻ con ngày nay tự trọng nhiều hơn, cái tôi cũng lớn hơn so với các thế hệ trước đó. Theo ông, giáo viên nên có những cách dạy như thế nào để vừa hiệu quả, vừa không làm tổn thương lòng tự trọng của học sinh?

PGS.TS Văn Như Cương:“Kiểm tra bài, học sinh được gọi lên bảng không làm được bài. Tôi rất bực! Tôi hỏi học sinh: Tại sao em không làm bài? Học sinh trả lời: Tối qua, em đi học thêm về muộn. Tôi nói: Quyển sách giáo khoa này do thầy viết, môn này do thầy trực tiếp dạy. Em đi học thêm để lấy những kiến thức mới hơn, để làm được những bài khó hơn, nâng cao hơn trong sách giáo khoa. Em học thêm ở đâu đấy, cho thầy đi học cùng với…

Cả lớp đã phá lên cười. Cậu học sinh không làm được bài cũng cười và xin lỗi thầy giáo…”


Giáo viên có nhiều cách để dậy học trò, Mắng mỏ, nhiếc móc, chì chiết học trò chỉ mang lại những tác dụng phản giáo dục.

- Được biết, gia đình ông là một gia đình nhà giáo, con cái rất thành đạt và đều theo nghiệp bố mẹ. Vậy khi con học tiểu học, ông dạy thế nào? Còn khi con học THCS, rồi THPT thì ông nói gì và chỉ cho con học thế nào?... 

GS.TS Văn Như Cương: Dạy con khó lắm! Có hai thứ của xã hội hiện đại đang trực tiếp góp phần làm “hỏng” con cái trong các gia đình khá giả ở thành phố, đó là gia sư và ô sin.

Gia sư học thay trẻ con. Ô sin làm hết việc của trẻ. Vô hình chung, trẻ con thành phố bị “cướp” đi quyền lợi và nghĩa vụ học tập, lao động để phát triển trí tuệ cũng như thế chất bình thường của mình.
PGS.TS Văn Như Cương:

"Dạy con khó lắm! Có hai thứ của xã hội hiện đại đang trực tiếp góp phần làm “hỏng” con cái trong các gia đình khá giả ở thành phố, đó là gia sư và ô sin.

Gia sư học thay trẻ con. Ô sin làm hết việc của trẻ. Vô hình chung, trẻ con thành phố bị “cướp” đi quyền lợi và nghĩa vụ học tập, lao động để phát triển trí tuệ cũng như thế chất bình thường của mình...".

Để dạy con tốt, trước tiên bố mẹ phải làm được gương cho con. Cách sống, cách làm việc, cách giao tiếp phải mẫu mực và khiến người khác chấp nhận.

Khi con học tiểu học, tôi cho con học tập đúng giờ, học ít, chơi nhiều và tôi cho con tập lao động, phụ giúp mẹ làm việc nhà hoặc làm việc ngoài vườn.

Khi con học THCS, bắt đầu có những thay đổi về tâm sinh lý, tôi chú ý đến con nhiều hơn ở lời ăn tiếng nói, cách cư xử, cách ăn mặc, sự trau chuốt của con rồi đến những loại sách con đọc, loại phim con xem và đặc biệt là mối quan hệ bạn bè của con.

Lúc con học THPT, tôi đặc biệt chú ý đến việc con chơi với ai. Vợ chồng tôi không bao giờ cấm đoán các mối quan hệ bạn bè của con mà chỉ góp ý để con hiểu ra vấn đề trong mối quan hệ bạn bè.

Con gái học THPT cũng là thời điểm nhạy cảm bắt đầu biết rung động và cảm mến với bạn trai.

Tôi không cấm con có những sự rung động và tình cảm khác giới. Sự thật là không thể cấm được. Tuy nhiên, phụ huynh nào cũng cần phải để ý đến mức độ thân mật của con, khuyên bảo và nói cho con hiểu những tác hại xấu của tình cảm bột phát tuổi mới lớn để con tránh…

- Cảm ơn những trao đổi, chia sẻ của PGS. TS Văn Như Cương. Chúc ông sức khỏe và thành công hơn nữa trong sự nghiệp giáo dục!
http://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-cuu/o-sin-va-gia-su-hai-thu-gop-phan-lam-hong-con-cai.html

Những suy nghĩ của tôi về tiền và sự giàu có

Tiền không mua được tất cả nhưng có thể làm người ta bị mất đi tất cả. Người ta làm tất cả để kiểm ra cái không mua được tất cả là tiền - điều đó thực sự là bất hạnh.
Nếu chỉ nhiều về tiền mà thiếu văn hoá thì gọi đó là trọc phú, mà trọc phú thì chưa bao giờ được coi là giàu cả.
Bọn trọc phú vô đạo nói “cái gì không mua được bằng tiền thì có thể mua được bằng rất nhiều tiền”. Chúng không biết rằng khi cái định mua nếu quy ra tiền rất lớn đã trở thành thứ vô hình, là giá trị chung mà không phải là sở hữu của riêng một người để có thể tuỳ tiện mua bán.
Khi làm việc không nghĩ đến tiền thì khi ăn cứ phải băn khoăn lấy đâu ra tiền để trả.
Tờ một đôla khi đốt đi sẽ còn lại tro bụi. Nhưng giá trị của nó sẽ đi vào tất cả những tờ đôla còn lại.
Khi đồng tiền có giá trị thì người ta muốn đầu tư, khi nó mất giá trị thì người ta bàn đến chuyện đầu cơ, khi nó không còn giá trị thì người ta vùng lên đạp đổ xã hội.
Bọn bất lương có thể làm được tiền giả bằng công nghệ cao và rất phức tạp, nguy hiểm, nhưng tại sao chúng không muốn làm ra đồ thật cho dù đơn giản hơn nhiều? Là vì chúng muốn ăn cắp cả thế giới - Tiền giả đó chính là cái mà quỷ dữ đã xui chúng làm ra và trả cho công lao của chúng.
Người sáng mắt khi nhận một đô la còn phải nhìn kiểm tra thật kĩ, người mù họ chỉ sờ, người có tâm họ chỉ cần nghe.
Ngoài tình yêu và danh dự, cái gì có thể đếm được thì hãy đếm cho chi li.
Nếu là ham muốn thì bao nhiêu tiền cũng không đủ - Nhưng nếu xác định là chất lượng cuộc sống thì không cần nhiều tiền lắm cũng đủ.
Cùng ngồi trên đống cát rất dễ là bạn. Nhưng khi cùng ngồi trên đống vàng nhiều khi dễ trở thành kẻ thù.
Giàu có trong sự nghèo khó của người khác, trong sự lụi bại của xã hội thì cái sự giàu có đó rất không yên ổn.
Sự lụn bại của xã hội ở chỗ: Người tâm huyết thì thiếu tiền, không vị trí - Kẻ thừa tiền, thừa danh, thừa quyền thì không tâm huyết.
Có những điều nếu trả bằng tiền thì người ta không muốn trả hoặc không chịu nổi, nhưng có thể trả bằng thứ khác, thậm chí dễ chịu và “tiết kiệm” hơn nhiều.
Từ khi phát minh ra đồng tiền người ta có thể không cần cảm ơn. Nhưng nếu nói cảm ơn với nhau thì đồng tiền đã hàm chứa những giá trị mới.
Cái gì không phải của mình thì: - Rồi cũng mất - Phải trả giá đánh đổi – Gây ra hậu quả hay ngộ độc.
Tiền thì tuỳ từng nơi có phải là giá trị hay không, nhưng một đôla thì ở đâu cũng là một đôla.
Một món hàng chỉ có giá một đôla nhưng sự thật về nó có khi là hàng triệu đôla.
Chúng bảo nhau “cái khó bó cái khôn” nhưng khi hỏi đến cái “khôn” của chúng thì hoá ra đó là cái “khôn tiểu nhân”, ăn người, ích kỉ, ngắn hạn … vì vậy nếu dùng cái “khôn” ấy thì chỉ sinh thêm cái khó cho mai sau mà thôi. Chúng nghĩ ra bao nhiêu câu đối để xỏ xiên nhau, để khoe mẽ cái tài chơi chữ của mình, thế mà không nghĩ ra được một chiến lược kinh doanh sản phẩm để kiếm được nhiều tiền hơn.
Kiếm tiền là câu chuyện của tài năng, còn xử sự với tiền đó là vấn đề của Văn hoá.
Người ta trả một đôla cho việc mua, nhưng đòi hơn một đôla cho việc mất lòng tin.
Một chai nước một đôla có ý nghĩa lớn lao ở chỗ nó đã kịp đến với người ta khi đang khát trên sa mạc. Một cây nến một đôla nhưng đã vô cùng ý nghĩa khi nó đã được thắp lên vào lúc mà người ta cần đến ánh sáng.
Một đôla có thể mua được một liều “thuốc chết” ví như thuốc chuột, nhưng “thuốc sống” cần rất nhiều liều. Mình có, rất nhiều thứ trong đó không phải là tiền mà là tinh thần của mình.
Đồng tiền kiếm được khi mang về nhà nó không còn là đồng tiền nữa. Đồng tiền lương thiện sẽ sản sinh ra các giá trị. Đồng tiền bất chính như tên trộm, sẽ lấy cắp đi rất nhiều thứ khác của người ta.
Người ta giả dối trong lao động thì sẽ trở thành kẻ ăn cắp những đồng tiền của người khác.
Đồng tiền đảm bảo sức mạnh của bạn, nhưng trong nhiều trường hợp nếu bạn đem sử dụng sức mạnh ấy thì lại làm cho đồng tiền của bạn mất giá.
Người biếu tiền thường nghĩ đến cái mục đích của mình còn người nhận lại quan tâm đến cái lí của nhận. Đúng ra là người biếu nên biết đến những ý nghĩa của giá trị sử dụng, còn người nhận nên thấy được cái tình của người biếu.
Tiền mua được cao lương mĩ vị nhưng không mua được sự ngon miệng
Tiền mua được thuốc nhưng không mua được sức khoẻ
Tiền mua được đồng hồ Rolex nhưng không mua được thời gian
Tiền mua được bộ quần áo sang trọng nhưng không mua được phong cách
Tiền mua được hợp đồng bảo hiểm nhưng không mua được sự yên ổn
Tiền mua được Sex nhưng không mua được tình yêu
Tiền mua được nhà cao cửa rộng nhưng không mua được tổ ấm
Tiền mua được kính Rayban nhưng không mua được tầm nhìn
Tiền mua được máy tính nhưng không mua được sự sáng tạo
Tiền mua được địa vị nhưng không mua được sự kính trọng
Tiền mua được sách, bằng cấp nhưng không mua được tri thức
Tiền mua được đàn nhưng không mua được cảm xúc…
Tiền có thể thoả mãn được tham vọng nhưng không thoả mãn được khát vọng.
"Bàn về văn hoá ứng xử của người Việt Nam" - NXB Phụ Nữhttp://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-cuu/nhung_suy_nghi_ve_tien_va_su_giau_co.html

Thứ Sáu, 21 tháng 4, 2017

Chúng ta biết ơn sách

Nền văn minh nhân loại sẽ lụi tàn nếu một ngày những người viết tuyệt chủng. Và sự đọc và nhận thức của con người cũng sẽ biến mất. Điều đó sẽ không xảy ra. Giả thiết ấy hoàn toàn trái khoáy trong kỷ nguyên tri thức, cả nhân loại đang tận dụng mọi cơ hội để thúc đẩy sự hiểu biết để vận hành đời sống trên địa cầu theo hướng tích cực. Chúng ta không nằm ngoài dòng chảy ấy.
Và vì thế thế giới có một ngày, gọi là ngày sách và bản quyền (21/4). Một ngày mà, sự tôn vinh của chúng ta dành cho những tác giả, những người viết, những người làm ra sách không chỉ bằng một dòng trên tờ lịch rồi xé đi sau 24 giờ, mà còn bằng cả sự tri ân sáng tạo cụ thể qua việc tiếp nhận sách vở, phát triển văn hóa đọc, qua các cơ chế, quy định bảo vệ sở hữu trí tuệ, trả công lao xứng đáng cho người sáng tạo.
Thường tại Việt Nam, chúng ta tham gia các hoạt động lễ lạc mang tính toàn cầu với một tâm lý rụt rè, bẽn lẽn. Chúng ta vừa thèm muốn nhiệt tình nhảy vào cuộc chơi chung với mọi người, lại vừa đặt ra một “barie” gần như mặc cảm, tự kỷ: liệu cái mà mình đang kỷ niệm hoành tráng đây có thuộc về mình? liệu những nghi lễ văn minh trọng đại này có tương phản với thực tế còn bất cập mà mình đang sống? Ví dụ: Chúng ta cũng cúp điện nhân giờ trái đất nhưng rồi lại bảo rằng, hiện nay cả nước đang ở trong tình trạng thiếu điện, nhiều địa phương phải cúp điện luân phiên theo lịch, vậy thì một giờ tắt điện, tiết giảm năng lượng bảo vệ trái đất hóa ra thừa, ngành điện nước ta đã góp phần bảo vệ trái đất quanh năm rồi còn gì? Rồi thì chúng ta quan tâm tới ngày nói dối, và lại đặt ra câu hỏi, chao ôi, cái hiện tại của chúng ta đang sống hàng ngày đây, có mấy dịp để chúng ta sống thật, nghĩ thật, nói thật mà cứ phải đợi tới cái ngày một tháng tư hàng năm mới được nói ra những điều dối trá cho khác ngày thường?
Lại nói chuyện một ngày của sách. Có vẻ ngày này ít ai quan tâm. Vì thế cái sự tự phản biện cũng ít. Người viết sách là thiểu số. Người đọc sách không nhiều, văn hóa đọc thì có lẽ cũng không phải là cao (hiện nay, chúng ta hay đổ thừa cho sự bận rộn cơm áo thời khủng hoảng!). Nên cái ngày này nó vốn dĩ hẩm hiu, lại càng hẩm hiu… Nó chỉ được một số nhà xuất bản, công ty sách nhớ đến. Rồi có vài hoạt động trong phòng đóng kín cửa, mang tính bàn tròn vài người nói, vài người nghe, thêm vài đợt tổ chức ký tác quyền hay bán sách giảm giá… Nhưng dẫu cố gắng thế nào, cũng không thu hút sự quan tâm của công chúng cho bằng một show diễn vòng sơ khảo của Vietnam Idol – cái công nghệ thi thố sẵn sàng sản xuất ra “thứ thần tượng của hơn 80 triệu dân”.
Một đất nước mà luật sở hữu trí tuệ còn “ban sơ chập chững”, nơi mà sự kiểm duyệt còn bị chi phối, áp đặt như ở ta, thì khái niệm tác quyền và tôn trọng giá trị sáng tạo của sách hẳn cũng diễn ra nhạt nhẽo. Những người tham gia những công đoạn quan trọng của xuất bản như kiểm duyệt và kinh doanh cũng chính là những người có khả năng ít tôn trọng tác quyền và giá trị sáng tạo nhất, ít biết ơn tri thức nhất. Chúng ta đang chứng kiến một thị trường sách phát triển ồ ạt nhưng còn mập mờ. Công sáng tạo của người viết bị cưỡng bức khi số lượng bản in ghi trên trang xi-nhê thông thường chỉ bằng một phần tư, một phần năm số bản in thực. Chữ nghĩa, tư duy sáng tạo tự do của người viết luôn bị soi xét dưới những đôi kính thiếu chuyên môn nhưng lại thừa sốt sắng quy chụp! Và cũng không ai khác, chính lực lượng này lại thiếu trách nhiệm trong việc bảo vệ sự an toàn thị trường cho cuốn sách trước tệ nạn in lậu, sao chép tràn lan.
Ở Việt Nam, không có những tác giả chọn ngày sách và tác quyền thế giới để lên tiếng về sự bóc lột giá trị sáng tạo, sự vô ơn với tri thức ngay từ cách kinh doanh giá trị sản phẩm tri thức. Vì sống lâu trong sự nhá nhem đã thành quen. Im lặng cho mọi thứ trôi chảy. Và cũng không có những nhà xuất bản, công ty sách chọn ngày này để công bố những danh sách dằng dặc những đầu sách mà họ bị in lậu, bị luộc ngay trên chính sân nhà vì họ biết chuyện này vẫn đang xảy ra như cơm bữa? Công ước Berne cũng vào đến Việt Nam hơn 5 năm vậy mà những người làm xuất bản thực thi đúng nó vẫn bị coi như những kẻ ngoan cố tuân thủ luật giao thông trong một đám kẹt xe!

Tất cả đều im lặng cảm nhận vị “ngọt” của quả bồ hòn. Câu chuyện còn dài. Và chúng ta là những người luôn làm ra vẻ có văn hóa, dĩ hòa vi quý. Tôi nhớ anh bạn dịch giả cầu toàn có lần quá chén đập bàn nói trong nước mắt: Mày biết không, không nỗi nhục nào bằng nỗi nhục đi nhận tiền lẻ nhuận bút của một cuốn sách. Một cuốn sách dịch trong ba năm chưa đủ một bữa cơm rượu với bạn bè ở nhà hàng hạng thường! Rồi thì giải tỏa bức bách bằng một câu thơ cảm thán ra đời gần thế kỷ trước: “Nhà văn An Nam khổ hơn chó!”Tôi cũng nhớ đến chị bạn làm nhà văn, có những tác phẩm đang bán chạy trên thị trường: “Cái nghề viết văn này cũng sống được!”.Chị nói và bao giờ cũng cười khẩy. Nói vậy mà hổng phải vậy.
Tôi tự hỏi, trong ngày sách và tác quyền thế giới, mình đã làm gì? Đến một vài hội thảo nghe một vài chuyện hay ho học thuật của giới viết sách, tay bắt mặt mừng với một vài người bạn làm xuất bản và nghe than thở chuyện kinh doanh thời khủng hoảng: kì kèo giảm một, hai phần trăm nhuận bút cho tác giả…
Tự dưng, rời những chốn đó, tôi trở về cái cảm giác hoang mang ngày xưa, cái cảm giác hoang mang mỗi khi gấp trang sau cùng của một cuốn sách kết thúc bỏ lửng, luôn tự hỏi: - Chắc ông tác giả này đã chết. Và ai đang là người tiếp tục công việc khổ hạnh của ông ta trên mặt đất này?

Nhà thờ Hạnh Thông Tây

Nhà thờ Hạnh Thông Tây (góc đường Quang Trung và Lê Văn Thọ, phường 11, quận Gò Vấp) thường vắng vẻ. Bên trong thánh đường, một vài người thợ sửa sang lại những chỗ hư hỏng. Một vị nữ tu quét dọn bụi trên bàn thờ. Lác đác chỉ có vài tín đồ vào cầu nguyện.
Hai bên hông thánh đường nổi bật lên trước mắt mọi người những pho tượng đầy giá trị nghệ thuật và vô cùng sống động. Phía bên trái là bức tượng người phụ nữ quỳ trên gối, hai tay cầm hai bó hoa huệ ôm choàng lấy tấm bia mộ. Đầu bà để trần, tóc búi cao, đầu hơi chếch hướng vào ngôi mộ phía sau. Chiếc áo dài trên người bà bình dị. Trên cổ bà đeo sợi dây chuyền có mặt ngọc, dưới chân mang dép mũi hài.
Tượng trông như người thật khiến ai nhìn cũng ngẩn ngơ. "Quý vị có biết pho tượng này là ai không?". Cụ già trông nom nơi thánh đường này cho biết, người phụ nữ ôm tấm bia là bà Trần Thị Thơ. Bà Thơ là vợ ông Lê Phát An - người nằm trong ngôi mộ phía sau. Từ đây nhìn thẳng sang phía đối diện, một người đàn ông đầu đội khăn đóng, mặc áo dài quỳ trên gối. Trước gối quỳ có đặt bó hoa. Ông có ria mép và đôi mày rậm. Hai bàn tay ông không chắp lại mà lại đan vào nhau. Nét mặt ông thành kính, đôi mắt nhìn vào tấm bia như muốn thì thầm trò chuyện. Cả hai pho tượng đều được làm bằng đá cẩm thạch trắng và mộ bằng đá hoa cương.
Tác giả của hai pho tượng và công trình bia mộ này là hai nghệ sỹ nổi tiếng của Pháp thời đó là kiến trúc sư Andre Contenay (1903-1992) và nhà tạc tượng Paul Ducuing (1867-1949). Hai nghệ sĩ tài danh về kiến trúc và điêu khắc đã thể khắc hiện rõ nét đặc trưng miền Nam qua chân dung của ông bà. Hai bức tượng -người vợ trước mộ chồng và người chồng trước mộ vợ - đã thể hiện rất đẹp tình cảm của hai người. Trước mộ ông có tượng bà mặc áo dài quỳ gối dâng bó hoa và cầu nguyện cho ông. Bên mộ bà có tượng của ông mặc áo dài quỳ phục dâng bó hoa và cầu nguyện cho bà. Với nét tạc tượng điêu luyện, hai pho tượng nhìn vào rất sống động và toát lên được những tình cảm mà người thực hiện muốn phục dựng.
Sinh ra trong gia đình giàu có nhất Đông Dương, ông Lê Phát An (1868-1946) là một phú hộ nổi tiếng thập niên 1930-1940 ở miền Nam. Cha ông là Lê Phát Đạt, còn gọi là Huyện Sĩ, là người đứng đầu của bốn người giàu nhất trong câu "Nhất Sĩ, Nhì Phương, Tam Xường, Tứ Bưởi". Ông Huyện Sĩ có cách giáo dục con cái rất nghiêm. Những người con của ông dù trai hay gái đều là những người thông minh, hiểu biết và biết phát huy tiềm lực kinh tế của gia đình. Ông Lê Phát An từng được gia đình cho du học bên Pháp. Sau khi về nước, ông đã cùng vợ chồng người em là Lê Thị Bính lên Đà Lạt mở đồn điền trồng trà và cà phê. Người em này có một cô con gái vừa xinh đẹp vừa giỏi giang.
Trong thời gian ở Đà Lạt, ông nhận được giấy mời của Đốc lý thành phố Đà Lạt là ông Darle. Ông Darle mời ông An và cô cháu gái xinh đẹp đến dự dạ tiệc ở khách sạn Palace, có vua Bảo Đại tham dự. Cháu gái ông - Nguyễn Hữu Thị Lan - không muốn dự nhưng được ông thuyết phục cũng đã miễn cưỡng đồng ý đến. Cô trang điểm nhẹ và mặc chiếc áo dài bằng lụa đến dự tiệc. Nhờ được học lễ nghi chỉnh chu, cô Lan đã đến trước mặt hoàng thượng trang trọng bái yết. Vừa lúc ấy điệu nhạc tango vang lên, Nhà Vua mời cô cùng nhảy. Đến năm 1934, Nguyễn Hữu Thị Lan trở thành Hoàng hậu Nam Phương.
Ngày cưới - cậu của hoàng hậu - ông An đã gởi đến cháu món quà mừng một triệu đồng bạc Đông Dương. Số tiền này tương đương với 20.000 lượng vàng. Sau đó, Vua Bảo Đại đã phong tước An Định Vương, tước hiệu cao quý nhất của triều đình và chỉ phong cho một người duy nhất ở miền Nam thuộc hàng dân dã cho ông Lê Phát An. Tuy có tước hiệu của triều đình nhưng ông An vẫn là một điền chủ. Ông được cha giao cho cai quản một khu đất rộng lớn ngày nay thuộc Gò Vấp. Nhờ biết làm ăn, ông đã đưa vùng đất này phát triển đến mức cực thịnh. Những việc làm của ông luôn được người dân đồng tình và ủng hộ. Vì là người có tước hiệu cao nhất trong triều đình, ông gặp nhiều thuận lợi trong việc thực hiện các chính sách đổi mới nhằm đưa mức sống của người dân lên cao. Năm 1921, ông bỏ tiền ra thuê nhà thầu Baader và nhà thầu Lamorte xây dựng nhà thờ Hạnh Thông Tây, làm trong ba năm mới hoàn thành. Năm 1932 bà Trần Thị Thơ mất, 14 năm sau là năm 1946, ông Lê Phát An qua đời. Để ghi lại công ơn của họ, ông bà được an táng ngay bên trong thánh đường nơi nhà thờ này.
Tấm lòng họ dành cho nhau đã trở thành bất tử. Hai pho tượng này thuộc hàng những tác phẩm điêu khắc đẹp nhất từ thời Pháp còn lại ở nước ta cho tới ngày nay.
Nguồn: Nguyễn Việt bốn phương

Thứ Năm, 20 tháng 4, 2017

XEM MỘT QUẢNG CÁO HAY KHI MUA HÀNG, HÃY LÀ NGƯỜI CÓ HIỂU BIẾT!

Trong một khóa học quốc tế dạng vỡ lòng về truyền thông, giáo viên khuyên rằng, khi xem một quảng cáo hay định mua hàng, hãy trả lời các câu hỏi sau:
1. Ai đưa ra thông điệp giới thiệu hay bán hàng?
2. Họ dùng kỹ thuật gì để thu hút mình chú ý?
3. Có thể có những cách hiểu hay diễn giải thông điệp nào khác với mình?
4. Họ đưa ra quan điểm và những giá trị gì? Những quan điểm và giá trị gì họ đã giấu hoặc bỏ qua?
5. Tại sao họ đưa ra thông điệp này?
Ví dụ khi mua nhà chung cư, thì phải trả lời đại loại:
1. Người bán hàng, họ là ai? Sun Group, VinGroup, FLC, Việt Hưng hay Viettel? Hay ai?
2. Họ dùng chiêu trò gì để thu hút mình? Giá rẻ, vị trí thuận tiện, trung tâm, thiết kế thân thiện môi trường?
3. Người khác có thể diễn giải khác thông điệp như thế nào? Ví dụ nhà đầu tư muốn thu hồi vốn, tháo chạy khỏi thị trường?
4. Họ che đậy điều gì? Ví dụ họ đang thiếu nợ, muốn lấy vốn từ người mua nhà? Họ muốn bỏ chạy khỏi một vụ kiện tụng? Họ đã "cướp đất" của dân nghèo? Họ đã tham nhũng chính sách để có được khu đất đầu tư? Họ sẽ thu lại lợi nhuận từ dịch vụ sau khi bán nhà? Họ đang sử dụng lao động trẻ em hay lao động của tù nhân?
5. Tại sao họ đưa ra thông điệp đó? Ví dụ, là vì họ có vị thế độc quyền? Là vì họ là nhà chuyên môn trong lĩnh vực? Vì là họ vì người nghèo và vì xã hội? Vì họ không còn được "bảo kê chính sách"?
Làm người tiêu dùng ngày nay cũng thật khó!
*****
1. Who created the message that is being sent?
2. What techniques were used to attract my attention?
3. How might other people understand or interpret this message differently from me?
4. What points of view and values are included or omitted from this message?
5. Why was this message sent?

https://www.facebook.com/dnquang/posts/10155225482137445
Nguồn: Face Đặng Ngọc Quang