MỘT
VÀI QUAN NIỆM VỀ SỰ SỐNG ĐỜI SAU NGOÀI KITÔ GIÁO
1.
Khoa
học và chủ nghĩa vô thần
Khoa
học
Đối với các nhà khoa học,
mặc dù họ rất mong muốn sự bất tử, nhưng lý trí khoa học không chứng minh được
có sự bất tử theo quan điểm của các tôn giáo truyền thống nên họ không thể tin
vào sự bất tử theo quan điểm của các tôn giáo.
Carl Sagan (1934-1996), nhà
thiên văn học nổi tiếng Mỹ đã từng là giáo sư thiên văn học ở Đại học Harvard
và Đại học Cornell ở Ithaca, New York viết:“Nếu có bằng chứng tốt về cuộc
sống ở kiếp sau được công bố, tôi sẽ là người sốt sắng trong việc xem xét vấn
đề này; nhưng đó phải là những cứ liệu khoa học, không phải là chuyện huyền
thoại ... Tôi nói, thà rằng sự thật cay nghiệt còn hơn sự tưởng tượng dùng để
an ủi”... “Tôi cũng thích tin rằng sau khi tôi chết tôi sẽ sống lại, rằng một
phần tư duy, tình cảm, ký ức của tôi sẽ tiếp tục tồn tại. Nhưng càng muốn tin
vào điều đó, và mặc dù những truyền thống văn hóa lâu đời khắp thế giới khẳng
định có kiếp sau, tôi càng không thấy có gì hơn rằng đó chỉ là điều suy nghĩ
mong ước (a wishful thinking) mà thôi”.
Nhà bác học Albert Eintein
(1879-1955) đã phê phán hạn chế của các quan điểm tôn giáo lấy sự mong muốn bất
tử của cá nhân và sự hứa hẹn được ban thưởng ở kiếp sau làm động cơ đạo đức của
cá nhân. Ông nói: “Tôi
không tin vào sự bất tử của cá nhân. Tôi coi đạo đức chỉ liên quan đến con
người mà thôi và không có một quyền lực siêu nhân nào ở đằng sau cả.”
Einstein đã vạch ra sự phi
lý trong quan niệm về sự ban thưởng hay trừng phạt của Thượng đế, vì điều này
mâu thuẫn với quan niệm của tôn giáo về tính toàn năng của Thượng đế. Sự ban
thưởng, trừng phạt chỉ chứng tỏ sự bất lực. Hơn nữa, dùng sự ban thưởng và
trừng phạt để kích thích hành vi đạo đức chỉ dẫn đến sự ích kỷ của con người.
Einstein viết: “Tôi không thể hình dung một vị Thượng đế lại đi ban thưởng hay
trừng phạt những sản vật của chính sự sáng tạo của mình”. Cũng theo Einstein, “Hành
vi đạo đức của một người phải dựa một cách có hiệu quả trên tình cảm, giáo dục,
quan hệ và nhu cầu xã hội; không cần có một cơ sở tôn giáo nào. Con người sẽ
thật là tồi tệ nếu anh ta phải kiềm chế vì sợ bị trừng phạt hoặc hy vọng ở sự
ban thưởng sau khi chết.”
Về sự bất tử của cá nhân,
Einstein bác bỏ các quan niệm tôn giáo và đưa ra quan niệm về “sự bất tử tương
đối” (relative immmortality). Einstein nói: “Sự
bất tử ư ? Có hai loại. Loại thứ nhất nằm trong trí tương tượng của con người
và do vậy chỉ là một ảo tưởng. Có một sự bất tử tương đối đó là sự duy trì ký
ức về một cá nhân qua một số thế hệ. Tuy nhiên, chỉ có một sự bất tử thật sự
duy nhất, ở phạm vi vũ trụ, đó là sự bất tử của chính vũ trụ. Không có một sự
bất tử nào khác”.
Chủ nghĩa vô thần
Đối với học thuyết Cộng sản của Marx và Lénine
chúng ta quan tâm hơn hết đến một điểm là chủ trương duy vật. Vì chủ trương duy
vật chỉ nhận có vật chất là nguyên lý và là đích cùng của vạn vật, nên học
thuyết đó tất nhiên cũng chủ trương vô thần. Đã chủ trương vô thần, nó phải
hoàn toàn đối nghịch với tất cả những gì là tinh thần, siêu việt, tín ngưỡng,
hoặc đạo lý; nói thể khác, nó hoàn toàn đối nghịch với chân lý nói chung, và
học thuyết Công giáo nói riêng. Nói tóm lại nó công khai chống Thiên Chúa mà
bọn họ coi chỉ là sản phẩm của óc tưởng tượng. Vì đã chủ trương
duy vật vô thần, và vì thế vất bỏ tất cả những gì là siêu việt, lương tâm, luân
lý...
2. Phật giáo
Luật quả báo
Theo thuyết luân hồi của Phật Giáo, không có vấn đề thưởng
phạt sau khi chết, mà chỉ có quả báo. Thực ra, thưởng phạt hay quả báo chỉ là
hai cách diễn tả khác nhau về cùng một thực tế, xuất phát từ hai quan điểm khác
nhau về nguồn gốc vũ trụ vạn vật. Thưởng phạt hay quả báo đều diễn tả cùng một
thực tế là: làm ác thì gặp ác, làm lành thì gặp lành. Nhưng theo quan niệm thưởng phạt thì có một Thượng Ðế (có ngôi vị) cầm
cân nẩy mực xét đoán thế gian theo luật công bằng của mình và cũng có thể theo
cảm tình của mình nữa, phần nào tương tự như một vị chánh án ở tòa án trần
gian. Còn theo quan niệm quả báo, không có vị nào thưởng phạt cả, mà chỉ có
luật quả báo hay nhân quả tác dụng một cách hết sức máy móc vào mọi người cũng
như mọi vật, do đó hết sức khách quan, vô tư: Hễ gây nhân ác thì sớm muộn gì
cũng sẽ gặp quả ác tương xứng, gây nhân thiện thì cũng sẽ gặp được quả thiện
hoàn toàn tương xứng.
Theo luật quả báo của Phật Giáo, ai làm ác thì đã tạo ra một
cái nhân ác. Nhân ác khi gặp nhân duyên thuận lợi đối với nó sẽ sinh ra quả ác,
là đau khổ. Còn ai làm điều thiện thì tạo ra nhân thiện. Nhân thiện sẽ sinh ra
quả thiện tức hạnh phúc. Nhân càng to thì quả càng lớn một cách rất tương xứng.
Do đó, có sự công bằng hoàn toàn. Và quả dù có to lớn đến đâu thì cũng đều có
giới hạn của nó. Chúng sinh dù có thông minh sáng suốt đến đâu, dù có quyền lực
hay khả năng tới đâu cũng đều là những sinh vật hữu hạn, không thể tạo ra những
nhân thiện hay ác vô hạn được, do đó không thể sinh ra những qủa thiện hay ác
vô cùng được. Như vậy, những cảnh khổ hay sướng do những hành động ác hay thiện
của con người luôn luôn có giới hạn, nghĩa là dù khổ hay sướng thì cũng chỉ
chịu hoặc hưởng một thời gian nào đó thôi. Tất cả những cảnh giới đau khổ hay
sung sướng, thiên đàng hay địa ngục của Phật Giáo đều là những trạng thái biến
đổi, vô thường như mọi trạng thái hiện tượng khác. Do đó, không có một thiên
đàng vĩnh cửu hay hỏa ngục đời đời nào cả. Một tội nặng nhất trần gian đi nữa thì
cũng là một tội hữu hạn, thuộc bình diện hiện tượng vô thường, nếu có phạt thì
hình phạt tương xứng cũng chỉ là hữu hạn, cũng thuộc bình diện hiện tượng vô
thường thôi. Tội hữu hạn mà lại phạt bằng một hình phạt vô hạn thì làm sao gọi
là công bằng được. Hình phạt phải tương xứng với tội ác mới công bằng. Vả lại,
bản chất con người đâu phải cứ xấu mãi. Kẻ xấu nhất cũng phải có lúc tốt. Phạt
vĩnh viễn là giả thiết rằng hễ đã xấu là xấu mãi, không sửa đổi được. Hơn nữa,
hình phạt chỉ gọi là hình phạt khi nó có mục đích giáo dục, nghĩa là làm cho
đối tượng trở nên tốt hơn. Nếu không có mục đích đó, thì không còn là hình phạt
nữa, mà là báo thù. Phạt bằng một hình phạt vĩnh viễn thì rõ ràng là không có
mục đích giáo dục, vì không còn cho họ có cơ hội hối cải để trở nên tốt hơn và
hạnh phúc hơn. Do đó, hình phạt đời đời vừa là bất công, vừa mang tính trả thù
độc ác mà người Phật Tử không thể chấp nhận được.
Còn thuyết luân hồi, mọi việc làm dù tốt hay xấu đều phát
sinh những quả tương xứng, và quả đó có thể xảy ra trong kiếp hiện tại hay kiếp
tương lai. Không có một tội ác nào mà không phải đền, cũng không có một việc
lành nào mà không được bù đắp. Một người phạm một tội ác tày trời ngay trước
khi chết và không kịp ăn năn, người đó sẽ phải đền tội ấy trong kiếp sau một
cách rất tương xứng. Nếu trong thời gian đền tội ấy người đó có những việc làm
tốt đẹp, thì số phận y sẽ trở nên tốt đẹp hơn. Như vậy, bất kỳ ở tình trạng
nào, dù sướng hay khổ, thậm chí khổ cùng cực đi nữa, thì mọi chúng sinh đều có
cơ may để làm cho tương lai của mình nên tốt đẹp hơn bằng những tư tưởng, lời
nói hay hành động tốt đẹp. Không bao giờ có tình trạng tuyệt vọng như những
người bị hình phạt đời đời cả.
3. Hồi giáo
Không có
một tôn giáo nào mô tả Thiên Đàng là một khu vườn với những lạc thú vật chất và
nhất là những lạc thú nhục dục tuyệt đỉnh với những cô gái trinh đẹp tuyệt vời
và trẻ mãi không già... như trong kinh Koran. Người ta gọi Thiên Đàng của Hồi
Giáo là Thiên Đàng của lạc thú (The Paradise of Delights) hoặc Thiên Đàng của
Kinh Koran (The Koranic Paradise).
Kinh Koran
(47:15) cho biết trên thiên đàng có những con sông với những dòng nước nguyên
chất (rivers of purest water) những con sông sữa tươi không bao giờ hư (rivers
of milk for ever fresh) và những con sông mật ong trong sạch nhất (rivers of
clearest honey). Chương 56:16-39 mô tả thiên đàng là những khu vườn lạc thú
(garden of delights) và mọi người lên thiên đàng đều trở thành những thanh niên
trẻ mãi không già (Immortal Youth). Điều đặc biệt nhất là trên thiên đàng Hồi
Giáo có các cô gái trinh đẹp tuyệt vời với những cặp mắt đen huyền vô cùng
quyến rũ (the dark-eye houris).
Thiên Chúa
Allah đã phán rằng: "Ta đã tạo ra các cô trinh nữ tuyệt vời đó, giữ cho họ
mãi mãi trinh trắng với tình yêu nồng nàn để làm phần thưởng cho những ai làm
việc phải" (We created the hourist and made them virgins, loving
compassion, a reward for those on the right hand - Koran: surah 56).
Hầu
hết các thanh niên Hồi Giáo cuồng tín đều ước mơ sớm được lên thiên đàng lạc
thú. Con đường ngắn nhất và bảo đảm nhất để họ đạt được mục đích này là sẵn
sàng tử đạo trong
các cuộc thánh chiến (Jihad). Kinh
Koran hứa rằng: "Những ai bị giết vì Chúa đều được vào thiên đàng lạc
thú" (As for those who are slain in the cause of God, He will admit them
to the Paradise of Delight). "Đừng bao giờ nghĩ rằng những người bị giết
vì Chúa sẽ chết. Họ sẽ sống mãi, không có gì phải sợ hãi hoặc hối hận, hãy vui
hưởng các hồng ân của Chúa. Chúa không bao giờ từ chối phần thưởng dành cho các
tín đồ của Ngài" (Never think that those who were slain in the cause of
God are dead. They are alive and well provided for by the Lord. Have nothing to
fear or to regret, rejoicing in God's grace. God will not deny the faithful
their reward - Koran 3:169)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét